Tổng hợp khuyến nghị thị trường hàng ngày (30/03/2026) – CTD, FMC, VHC, MSH, TNG, PVT, DCM, DPM, GAS, HDB, MWG, VPX, VRE, BWE, POW, PVS, PVD, BSR
Ngày 30/03/2026
SSI khuyến nghị KHẢ QUAN cp FMC (TP: 45), PVT (TP: 26.2), MSH (TP: 40), TRUNG LẬP cp VHC (TP: 60), CTD (TP: 91.3), TNG (TP: 23)
HSC khuyến nghị MUA cp GAS (TP: 120), PVS (TP: 55), PVD (TP: 46.5), NẮM GIỮ cp BSR (TP: 34)
VCSC khuyến nghị MUA cp BWE (TP: 58.7), POW (TP: 16.7), DCM (TP: 57.6), PHÙ HỢP THỊ TRƯỜNG cp DPM (TP: 31.2), cập nhật GAS, HDB, MWG, VPX, VRE
CÁC KHUYẾN NGHỊ PHÂN TÍCH CƠ BẢN
SSI
Lượng Backlog cao kỷ lục củng cố tiềm năng tăng trưởng đến năm 2027
- CTD hiện đang giao dịch ở mức P/E và P/B dự phóng 2026 lần lượt là 13,2x và 0,9x. Chúng tôi cho rằng CTD là một trong những doanh nghiệp dẫn đầu trong ngành xây dựng, được hỗ trợ bởi nền tảng vốn mạnh, đội ngũ nhân sự giàu kinh nghiệm cùng năng lực triển khai các dự án FDI theo tiêu chuẩn ESG. Cơ cấu backlog đa dạng góp phần củng cố triển vọng doanh thu đến hết năm 2026–2027. Dựa trên kết hợp phương pháp định giá P/E và P/B, giá mục tiêu của CTD là 91.300 đồng/cp, tương đương tiềm năng tăng giá là 6,5% và hạ khuyến nghị từ KHẢ QUAN xuống TRUNG LẬP.
Luận điểm đầu tư
Lượng backlog và tỷ lệ bán hàng lặp lại (repeat sales) tăng trưởng mạnh.
- Tính đến cuối Q2/NTC2026 (năm tài chính bắt đầu từ ngày 1/7 và kết thúc vào ngày 30/6 năm sau), lượng backlog đạt 62,5 nghìn tỷ đồng (+69% svck), trong đó 84% đến từ các dự án nhà ở, đảm bảo triển vọng tăng trưởng. Tỷ lệ repeat sales đạt 94% - mức cao nhất từ trước đến nay, cho thấy tăng trưởng doanh thu được đảm bảo.
Tích hợp chuỗi giá trị.
- CTD đã phê duyệt mua lại toàn bộ GEO Foundations Vietnam (trước đây là Bauer Vietnam), công ty thuộc sở hữu của BAUER SPEZIALTIEFBAU GMBH (Đức). Thương vụ này giúp CTD tăng cường tích hợp chuỗi giá trị và nâng cao năng lực cạnh tranh khi tham gia đấu thầu các dự án FDI đáp ứng tiêu chuẩn ESG.
Vị thế tài chính tốt.
- Tính đến cuối Q2/NTC2026, CTD ghi nhận 6.283 tỷ đồng tiền mặt và đầu tư ngắn hạn, nợ vay dài hạn ở mức thấp, và tỷ lệ tiền mặt ròng/vốn chủ sở hữu là 0,11x. Thanh khoản dồi dào giúp công ty có thể chủ động mua nguyên vật liệu sớm và hỗ trợ đối tác trong bối cảnh chi phí đầu vào tăng. Các khoản nợ xấu hiện chủ yếu liên quan đến Tân Hoàng Minh; tuy nhiên, việc doanh nghiệp này trở lại thị trường vào năm 2026 cùng quá trình tái cơ cấu dòng tiền có thể giúp cải thiện khả năng thu hồi nợ.
Điểm nhấn KQKD
- Trong Q2/NCT2026, CTD ghi nhận doanh thu thuần tăng 45,3% svck lên 10.007 tỷ đồng, nhờ lượng backlog chuyển tiếp. Lợi nhuận ròng tăng mạnh 117,8% svck lên 228 tỷ đồng, với biên lợi nhuận tăng 74 điểm cơ bản lên 2,28%. Chúng tôi ước tính lũy kế NTC 2026, doanh thu thuần và lợi nhuận ròng của CTD sẽ lần lượt đạt 30,8 nghìn tỷ đồng (+23% svck) và 703 tỷ đồng (+54% svck).
Rủi ro.
- Giá nguyên vật liệu đầu vào tăng có thể gây áp lực lên biên lợi nhuận. Chúng tôi ước tính chi phí nguyên vật liệu tăng 1% sẽ làm biên lợi nhuận gộp giảm khoảng 0,8%.
- Thị trường bất động sản chững lại ảnh hưởng đến hoạt động xây dựng của các chủ đầu tư lớn.
Yếu tố hỗ trợ:
- Tiến độ triển khai các dự án FDI nhanh hơn dự kiến có thể thúc đẩy tăng trưởng doanh thu của CTD.
Cập nhật quý: Triển vọng tăng trưởng tích cực cùng định giá hấp dẫn
- Chúng tôi nâng khuyến nghị đối với PVT lên KHẢ QUAN với giá mục tiêu 26.200 đồng/cổ phiếu (tiềm năng tăng giá là 17,5%), phản ánh triển vọng lợi nhuận trong trung hạn tích cực, tiến độ mở rộng đội tàu ổn định, và thị trường tàu chở dầu thuận lợi, được hỗ trợ bởi mức giá thuê tàu định hạn/giao ngay duy trì ở mức cao trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị. Chúng tôi dự báo lợi nhuận sau thuế cổ đông công ty mẹ (NPATMI) năm 2026 đạt 1.278 tỷ đồng (+23% svck), được thúc đẩy bởi: (i) giá thuê tàu tăng cao, (ii) đòn bẩy hoạt động từ chiến lược mở rộng đội tàu và độ tuổi tàu trẻ, và (iii) tình trạng khan hiếm kéo dài của công suất tàu chở dầu trên toàn cầu. Ở mức giá 21.700 đồng/cổ phiếu, PVT hiện đang giao dịch ở mức P/E dự phóng 2026 là 8,48x, thấp hơn mức trung bình 5 năm là 9,0x, và P/B dự phóng 2026 là 1,01x, thấp hơn mức trung bình 1,25x.
Luận điểm đầu tư
- Chiến lược mở rộng đội tàu góp phần thúc đẩy doanh thu và biên lợi nhuận: Quy mô đội tàu của PVT tăng lên 65 tàu (2,03 triệu DWT) trong năm 2025, với 6 tàu mới dự kiến bổ sung trong năm 2026. Tỷ lệ khai thác cao hơn cùng mức giá thuê định hạn thuận lợi giúp tạo thêm doanh thu trong khi tác động từ chi phí cố định không đáng kể.
- Căng thẳng địa chính trị làm thu hẹp nguồn cung tàu chở dầu, giúp giá thuê duy trì ở mức cao: Gián đoạn tại eo biển Hormuz, phí bảo hiểm rủi ro chiến tranh tăng cao và tâm lý thận trọng của các chủ tàu đã làm giảm nguồn cung đội tàu hoạt động, đẩy mặt bằng giá thuê lên mức cao.
- Lợi thế cạnh tranh từ đội tàu trẻ và hiện đại: Các tàu đóng mới và tàu mua lại giúp PVT hưởng lợi từ chu kỳ thay mới tàu chở dầu, với độ tuổi tàu trẻ (trung bình 5–10 năm, thấp hơn đáng kể so với đội tàu toàn cầu là 15 năm tuổi), và sản lượng thương mại phục hồi.
- Chiến lược tái đầu tư hợp lý góp phần tạo nền tảng tăng trưởng trong dài hạn: PVT cân đối hài hòa giữa tăng trưởng đội tàu và kỷ luật tài chính, qua đó ổn định tăng trưởng lợi nhuận và linh hoạt trong vận hành.
Điểm nhấn KQKD
- PVT ghi nhận KQKD Q4/2025 tích cực với doanh thu đạt 4.480 tỷ đồng (+37% svck, +1,4% so với quý trước) và NPATMI đạt 266 tỷ đồng (+27% svck, +1,1% so với quý trước). Doanh thu mảng vận tải cốt lõi đạt 2.775 tỷ đồng (+19,5% svck), trong khi biên lợi nhuận gộp cải thiện lên 22,1% (+0,9 điểm % svck, +1,0 điểm % so với quý trước) nhờ chi phí hoạt động ổn định, giá thuê định hạn thuận lợi và việc tham gia liên minh đội tàu quốc tế. Lũy kế năm 2025, PVT đạt doanh thu 16.049 tỷ đồng (+36,8% svck), NPATMI đạt 1.038 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế (LNTT) đạt 1.654 tỷ đồng (+21,2% svck), vượt 38% so với kế hoạch năm, phản ánh hiệu quả đòn bẩy hoạt động và lợi nhuận từ thị trường giao ngay.
Động lực tăng trưởng:
- Giá thuê định han và giao ngay duy trì ở mức cao, được hỗ trợ bởi căng thẳng Trung Đông, lưu lượng dầu lớn hơn và nguồn cung đội tàu hạn chế.
- Mở rộng đội tàu và cải thiện tỷ lệ khai thác giúp gia tăng số ngày tạo doanh thu và hiệu quả quy mô.
- Năng lực vận hành cùng khả năng chuyển một phần chi phí nhiên liệu/bảo hiểm tăng sang khách hàng giúp bảo vệ biên lợi nhuận.
- Đội tàu trẻ và việc tham gia liên minh đội tàu quốc tế giúp PVT đạt mức giá thuê cao hơn và duy trì biên lợi nhuận ổn định.
Rủi ro:
- Giá thuê tàu về mức bình thường nhanh hơn dự kiến trong trường hợp căng thẳng địa chính trị hạ nhiệt hay nguồn cung tàu tăng.
- Tiến độ mở rộng đội tàu chậm hoặc cơ cấu loại tàu không phù hợp với nhu cầu thị trường.
- Không thể chuyển phần chi phí nhiên liệu/bảo hiểm tăng mạnh sang khách thuê.
- Rủi ro vĩ mô hoặc gián đoạn thương mại, bao gồm việc căng thẳng tại Trung Đông hạ nhiệt, có thể làm suy yếu động lực thúc đẩy giá thuê.
Cập nhật Ngành xuất khẩu Thủy sản & Dệt may: Tái cấu trúc dòng chảy thương mại trước áp lực thuế quan
Triển vọng năm 2026: Kém khả quan
Tổng quan thị trường
- Trong năm 2025, doanh thu xuất khẩu ngành thủy sản và dệt may đạt 50,5 tỷ USD (10,6% tổng kim ngạch xuất khẩu), trong đó dệt may đạt 39,6 tỷ USD (tăng trưởng kép hằng năm CAGR giai đoạn 2015–2025 đạt 5,7%) và thủy sản đạt 11,3 tỷ USD (CAGR giai đoạn 2015–2025 đạt 5,3%). Cả hai ngành vẫn mang tính thâm dụng lao động cao và phụ thuộc vào vốn FDI, với mức độ phụ thuộc cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Về cơ cấu, mức độ tập trung xuất khẩu vào thị trường Mỹ đang giảm dần, trong khi Trung Quốc và khu vực châu Á gia tăng thị phần (đặc biệt là ngành thủy sản). Tuy nhiên, chi phí lao động tăng đang làm giảm lợi thế chi phí thấp của Việt Nam, buộc các doanh nghiệp phải chuyển dịch sang các phân khúc có giá trị gia tăng cao hơn (FOB/ODM, thủy sản giá trị gia tăng) để duy trì tăng trưởng. Biên lợi nhuận của các doanh nghiệp đầu ngành cải thiện, dù sự phụ thuộc vào biến động chi phí đầu vào (bông, thức ăn chăn nuôi, tỷ giá) vẫn là rủi ro chính.
Triển vọng năm 2026
- Chúng tôi dự báo tăng trưởng xuất khẩu ở mức một chữ số trong năm 2026, trong đó ngành thủy sản sẽ vượt trội hơn nhờ đà tăng mạnh trong Q1/2026 và thị trường Mỹ cải thiện. Ngành dệt may vẫn đối mặt với rủi ro kéo dài từ các chính sách thuế quan, đặc biệt trong trường hợp thuế đối ứng của Mỹ quay trở lại mức 20%. Trung Quốc và ASEAN vẫn là những thị trường quan trọng giúp đa dạng hóa xuất khẩu. Áp lực chi phí (vận chuyển, lao động, nguyên vật liệu) dự kiến duy trì, nhưng có thể được bù đắp một phần nhờ dịch chuyển đơn hàng qua châu Á.
Triển vọng lợi nhuận
- Sự phân hóa lợi nhuận trong cả hai ngành sẽ ngày càng rõ rệt. Biên lợi nhuận ngành thủy sản có xu hướng trở về mức bình thường trong 2026 trước bối cảnh chi phí tăng. Tuy nhiên lợi nhuận các doanh nghiệp có tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng cao có thể duy trì khả năng chống chịu tốt trước những cú sốc. Đối với ngành dệt may, các doanh nghiệp FOB/ODM (như TNG, MSH) được kỳ vọng duy trì tăng trưởng, trong khi các doanh nghiệp gia công theo CMT có thể tiếp tục đối mặt với áp lực thu hẹp biên lợi nhuận.
Rủi ro
- Mỹ tăng mức thuế quan;
- Các phán quyết thương mại bất lợi;
- Biến động tỷ giá USD/VND;
- Nhu cầu yếu hơn kỳ vọng tại các thị trường trọng điểm như Mỹ hoặc Trung Quốc.
Luận điểm đầu tư
- Chúng tôi khuyến nghị khả quan với cổ phiếu thủy sản như FMC - doanh nghiệp nổi bật với tăng trưởng lợi nhuận đạt 7% svck và P/E 2026 ở mức 6,7x, nhờ thị trường xuất khẩu đa dạng và đang hưởng mức thuế chống bán phá giá thuận lợi. Trong khi đó, VHC vẫn đang ở vùng giá cao hơn quá khứ cũng như mặt bằng chung (lợi nhuận -12,7% svck, P/E 2026 khoảng 11x). Đối với ngành dệt may, TNG có mức tăng trưởng lợi nhuận dự kiến tiếp tục ổn định (lợi nhuận +7% svck, P/E 2026F khoảng 8x), trong khi MSH (P/E 2026 khoảng 7x) còn dư địa tăng giá nhờ định giá hấp dẫn nếu công ty hoàn thành mục tiêu năm 2026 là lợi nhuận trước thuế tăng 10% svck (cao hơn so với dự báo của chúng tôi).
FMC
VHC
MSH
TNG
HSC
Nâng k/n lên Mua vào trong bối cảnh giá năng lượng tăng cao
- Tiến độ xây dựng các nhà máy điện khí LNG mới của GAS cải thiện đáng kể trong 3 tháng qua với hai nhà máy bắt đầu vận hành và nhiều nhà máy khác gần đây đã tìm được nguồn cung tuabin.
- Dựa trên dự báo giá năng lượng sẽ tăng cao, HSC tăng bình quân 43% dự báo lợi nhuận thuần năm 2026-2027 lên lần lượt 16,5 nghìn tỷ đồng (tăng trưởng 45%) và 16,1 nghìn tỷ đồng (giảm nhẹ so với cùng kỳ) tương ứng với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm trong 3 năm (bao gồm cả dự báo lần đầu cho năm 2028) đạt 11,1%.
- Sau khi giá cổ phiếu tăng 37% trong 3 tháng qua, GAS đang giao dịch với P/E trượt dự phóng 1 năm là 13,2 lần, thấp hơn 0,3 độ lệch chuẩn so với bình quân quá khứ ở mức 13,9 lần. HSC tăng 62% giá mục tiêu lên 120.000đ sau khi điều chỉnh tăng dự báo lợi nhuận và các giả định định giá. Với tiềm năng tăng giá 36,5%, HSC nâng khuyến nghị đối với GAS lên Mua vào.
Tăng giá mục tiêu, nhờ mở rộng mảng cơ khí & xây dựng
- HSC tăng 22,6% giá mục tiêu theo phương pháp DCF lên 55.000đ, sau khi phân tích KQKD tích cực trong năm 2025 của công ty và các xu hướng cơ bản. Với tiềm năng tăng giá 32% tại giá mục tiêu mới, HSC nâng khuyến nghị Mua vào.
- Cho năm 2026-2027; HSC tăng lần lượt 33% và 20% dự báo lợi nhuận thuần, cho thấy mức tăng trưởng 15,8% trong năm nay và giảm 7,5% cho năm sau. Sự cải thiện ở mảng cơ khí & xây dựng và lợi nhuận HĐ tài chính được kỳ vọng sẽ là những động lực tăng trưởng lợi nhuận chính.
- Sau khi giá cổ phiếu tăng 30% trong 3 tháng qua, PVS đang giao dịch với P/E trượt dự phóng 1 năm là 12,9 lần, vẫn thấp hơn so với bình quân quá khứ ở mức 13,8 lần. Giá mục tiêu của HSC cho thấy P/E dự phóng năm 2026 và 2027 ở mức 16,7 lần và 18 lần.
Tăng dự báo lợi nhuận/giá mục tiêu dựa trên triển vọng của mảng dịch vụ kỹ thuật giếng khoan
- PVD đang điều động thêm giàn khoan tự nâng về hoạt động tại Việt Nam trong năm 2026. Điều này dự kiến sẽ hỗ trợ doanh thu và lợi nhuận của mảng dịch vụ kỹ thuật giếng khoan.
- Dựa trên yếu tố này, HSC tăng lần lượt 15% và 29% dự báo lợi nhuận thuần cho năm 2026-2027 lên mức bình quân đạt 2,1 nghìn tỷ đồng. Trong khi đó, dự báo lần đầu cho năm 2028 cho thấy lợi nhuận thuần đạt 2,1 nghìn tỷ đồng (tăng trưởng 3,7%), tương ứng với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm trong 3 năm đạt 27,4%).
- Sau khi giá cổ phiếu tăng 44% trong 3 tháng qua, PVD đang giao dịch với P/E trượt dự phóng 1 năm là 12,̣9 lần, vẫn thấp hơn so với bình quân quá khứ ở mức 15,5 lần. HSC tăng 45% giá mục tiêu lên 46.500đ và duy trì khuyến nghị Mua vào.
Nâng khuyến nghị lên Nắm giữ sau cuộc tấn công vào đảo Kharg
- Cuộc tấn công gần đây của quân đội Mỹ vào đảo Kharg của Iran đang làm phức tạp thêm tình hình chiến sự tại Trung Đông và làm kéo dài tình trạng đóng cửa tại tuyến vận tải huyết mạch qua Eo biển Hormuz. Thậm chí trước khi sự kiện này diễn ra, chênh lệch giá dầu thô và dầu sản phẩm 2:1:1 tại Singapore đã tăng gấp đôi so với tháng trước.
- Dựa trên yếu tố này, HSC tăng bình quân 167% dự báo lợi nhuận thuần giai đoạn 2026-2028 lên 28,6 nghìn tỷ đồng. HSC cũng tăng 48% giá mục tiêu lên 34.000đ và nâng khuyến nghị lên Nắm giữ (từ Bán ra), với tiềm năng tăng giá 3,8% so với giá mục tiêu mới.
- Sau khi giá cổ phiếu tăng 113% trong 3 tháng qua trong bối cảnh căng thẳng tại Trung Đông, BSR đang giao dịch với P/E trượt dự phóng 1 năm là 3,7 lần, vẫn thấp hơn 0,7 độ lệch chuẩn so với bình quân từ tháng 1/2023 ở mức 18,4 lần. Vẫn còn rủi ro bị hủy niêm yết.
VCSC
DCM đặt kế hoạch LNST năm 2026 tăng trưởng mạnh +53% so với kế hoạch năm 2025, phù hợp với dự báo; cổ tức đúng dự báo
- Tổng công ty Phân bón Dầu khí Cà Mau (DCM) công bố tài liệu ĐHCĐ năm 2026 với các điểm chính sau: + Cổ tức: Xin ý kiến thông qua mức cổ tức bằng tiền mặt năm 2025 là 2.000 đồng/cổ phiếu, tương đương 100% dự báo của VCSC. Mục tiêu cổ tức tiền mặt năm 2026 là 1.000 đồng/cổ phiếu, so với dự báo 3.000 đồng/cổ phiếu của VCSC (dựa trên dự báo LNST sau lợi ích CĐTS năm 2026 tăng 55% YoY). Điều này phù hợp với kỳ vọng vì thực tế DPS của DCM luôn cao gấp 3,2 lần mức phê duyệt trong 4 năm qua.
- + Kế hoạch kinh doanh: DCM giữ nguyên các chỉ tiêu kế hoạch chính thức tương đương với kế hoạch sơ bộ công bố vào tháng 12/2025. Cụ thể: sản lượng urê đạt 796.000 tấn (+2% so với kế hoạch năm 2025, tương đương khoảng 97% dự báo năm 2026); doanh thu đạt 17,6 nghìn tỷ đồng (+26% so với kế hoạch năm 2025, tương đương khoảng 92% dự báo năm 2026); và LNST đạt 1,2 nghìn tỷ đồng (+53% so với kế hoạch năm 2025, tương đương khoảng 39% dự báo năm 2026). Trong 4 năm qua, DCM trung bình hoàn thành 338% kế hoạch LNST đặt ra.
- Quan điểm của VCSC: VCSC nhận thấy không có thay đổi đáng kể đối với dự báo LNST sau lợi ích CĐTS năm 2026 (3 nghìn tỷ đồng, +55% YoY) do sản lượng tiêu thụ và giá bán urê trung bình hiện phù hợp với dự báo của VCSC, dù cần thêm đánh giá chi tiếth. VCSC hiện có khuyến nghị MUA cho DCM với giá mục tiêu 57.600 đồng/cổ phiếu theo kịch bản cơ sở.
DPM đặt kế hoạch LNST năm 2026 gấp đôi so với kế hoạch năm 2025, phù hợp với dự báo; cổ tức năm 2025 cao hơn dự báo
- Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (DPM) công bố tài liệu ĐHCĐ năm 2026 với các điểm chính sau:
+ Cổ tức: Xin ý kiến cổ đông thông qua mức chi trả cổ tức bằng tiền mặt năm 2025 là 1.500 đồng/cổ phiếu, cao hơn mức phê duyệt tại ĐHCĐ năm 2025 và dự báo 1.200 đồng/cổ phiếu của VCSC. Mục tiêu cổ tức tiền mặt năm 2026 là 1.200 đồng/cổ phiếu, so với mức dự báo 1.400 đồng/cổ phiếu của VCSC (VCSC nhận thấy không có rủi ro đáng kể).
+ Kế hoạch sản lượng 2026: 833.000 tấn urê (+4% so với kế hoạch năm 2025, tương đương khoảng 98% dự báo năm 2026 của VCSC); 180.000 tấn NPK (+3% so với kế hoạch năm 2025, tương đương khoảng 90% dự báo năm 2026 của VCSC), nhìn chung phù hợp với dự báo.
+ Kế hoạch tài chính năm 2026: Doanh thu đạt 17,6 nghìn tỷ đồng (+37% so với kế hoạch năm 2025, tương đương khoảng 89% dự báo năm 2026); LNST đạt 680 tỷ đồng (gấp 2,1 lần so với kế hoạch năm 2025, tương đương khoảng 37% dự báo năm 2026). Kế hoạch này phù hợp với dự báo của VCSC do trong 4 năm qua, DPM trung bình hoàn thành 264% kế hoạch LNST đặt ra.
- Quan điểm của VCSC: VCSC nhận thấy không có thay đổi đáng kể đối với dự báo LNST sau lợi ích CĐTS năm 2026 (1,8 nghìn tỷ đồng, +70% YoY) do sản lượng tiêu thụ và giá urê quý 1 hiện phù hợp dự báo, dù cần thêm đánh giá chi tiết. VCSC hiện có khuyến nghị PHÙ HỢP THỊ TRƯỜNG cho DPM với giá mục tiêu 31.200 đồng/cổ phiếu theo kịch bản cơ sở.
GAS đặt kế hoạch LNST năm 2026 tăng 70% so với kế hoạch 2025, phù hợp với dự báo
- Tổng Công ty Khí Việt Nam (GAS) công bố kế hoạch kinh doanh năm 2026:
+ Sản lượng tiêu thụ khí ẩm: 7,4 tỷ m3 (+21% so với kế hoạch năm 2025, +15% so với thực hiện 2025, tương đương 100% dự báo năm 2026 của VCSC), bao gồm 6,5 tỷ m3 khí nội địa (+15% so với kế hoạch năm 2025, tương đương khoảng 103% dự báo năm 2026 của VCSC) và 900 triệu m3 LNG (+80% so với kế hoạch năm 2025, tương đương khoảng 87% dự báo năm 2026 của VCSC). Điều này phù hợp với dự báo của VCSC vì kỳ vọng nguồn cung nội địa cao hơn sẽ bù đắp cho doanh số LNG thấp hơn dự kiến do giá cao (gấp đôi so với trước xung đột).
+ Kế hoạch tổng sản lượng tiêu thụ LPG năm 2026: 4.030 tấn, tương đương khoảng 86% dự báo năm 2026 của VCSC. VCSC nhận thấy rủi ro điều chỉnh giảm dự báo sản lượng LPG do sự gián đoạn nguồn cung quốc tế.
+ Kế hoạch tài chí năm 2026: Doanh thu đạt 142 nghìn tỷ đồng (+92% so với kế hoạch năm 2025, tương đương khoảng 96% dự báo năm 2026); LNST đạt 9 nghìn tỷ đồng (+70% so với kế hoạch năm 2025, tương đương khoảng 67% dự báo năm 2026). Trong 5 năm qua, LNST thực tế của GAS trung bình hoàn thành 181% kế hoạch đề ra.
- Quan điểm của VCSC: VCSC nhận thấy tác động trung lập đối với dự báo LNST sau lợi ích CĐTS năm 2026 (13,5 nghìn tỷ đồng, +9% YoY) do: (1) giá khí đầu ra cao hơn dự kiến (lấy dầu nhiên liệu làm tham chiếu) cho phân khúc kinh doanh khí (ước tính đóng góp 23% tổng sản lượng năm 2026), (2) biên lợi nhuận cao hơn từ sản lượng LPG tự sản xuất của GAS, và (3) nguồn cung khí nội địa cao hơn có thể bù đắp cho (4) sản lượng và biên lợi nhuận kinh doanh LPG thấp hơn dự kiến ở cả thị trường trong nước và quốc tế, cũng như (5) doanh số LNG yếu hơn kỳ vọng trong bối cảnh giá duy trì ở mức cao.
Xin ý kiến cổ đông về việc thành lập ngân hàng thương mại vốn trong nước do HDB sở hữu 100% hoạt động tại IFC
- Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HDB) đang xin chấp thuận cổ đông về chủ trương thành lập một ngân hàng thương mại trong nước do HDB sở hữu 100%, hoạt động trong khuôn khổ Trung tâm Tài chính Quốc tế (IFC) của Việt Nam.
- Cơ sở pháp lý: Nghị định số 329/2025/NĐ-CP (ban hành tháng 12/2025) quy định về cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối, phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố và ngăn chặn tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt tại Trung tâm Tài chính Quốc tế.
- Vốn điều lệ: Tuân thủ mức vốn pháp định đối với ngân hàng thương mại tại Việt Nam (3.000 tỷ đồng theo Nghị định 86/2019/NĐ-CP) Quan điểm của VCSC: VCSC đánh giá đây là diễn biến tích cực về mặt chiến lược dài hạn nhưng trung tính đối với lợi nhuận trong ngắn hạn. Theo quan điểm của VCSC, HDB đang đề xuất một pháp nhân riêng biệt cho các hoạt động liên quan đến IFC, pháp nhân này sẽ hoạt động song song với ngân hàng hiện hữu, nhiều khả năng do có cấu trúc khác biệt đáng kể so với mảng cốt lõi hiện nay của HDB là ngân hàng bán lẻ và SME trong nước. VCSC cho rằng một thực thể độc lập như vậy sẽ hợp lý hơn xét trên các khía cạnh pháp lý, phân bổ vốn, khoanh vùng rủi ro và hợp tác chiến lược, đặc biệt nếu cơ cấu hoạt động dần mở rộng sang các mảng xuyên biên giới, khách hàng tổ chức và thị trường vốn. Cách tiếp cận này cũng nhìn chung phù hợp với định hướng mà một số ngân hàng lớn khác như VCB và CTG cũng đang cân nhắc đối với mô hình hoạt động tại IFC.
Tài liệu ĐHCĐ năm 2026 của MWG: Mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận ròng 30%, cổ tức tăng gấp đôi YoY, đạt 2.000 đồng, tỷ lệ ESOP tại công ty mẹ thấp, chỉ ở mức 0,2%
Kế hoạch cho năm 2026
5 trụ cột chiến lược cho năm 2026:
1. Khởi động Chu kỳ Chiến lược 2026-2030: Giai đoạn tái cơ cấu “giảm lượng, tăng chất” trong năm 2024-2025 đã hoàn tất. Trong năm 2026, MWG chuyển sang giai đoạn tăng trưởng bằng chất — nâng cao hiệu quả vận hành, cải thiện trải nghiệm khách hàng, và mở rộng mạng lưới cửa hàng có chọn lọc, chỉ ở những nơi đảm bảo lợi nhuận bền vững trên từng cửa hàng.
2. Tách biệt công ty con thành pháp nhân độc lập: Các mảng điện thoại/điện tử, điện máy, bách hóa, dược phẩm và mẹ & bé sẽ được tách thành các pháp nhân riêng biệt, với quyền tự chủ ra quyết định đầy đủ và tiêu chuẩn quản trị doanh nghiệp độc lập. Đây được xác định rõ ràng là nền tảng để từng công ty con bứt phá và đóng góp hiệu quả vào hệ sinh thái MWG trong trung và dài hạn.
3. Triển khai AI/ML & Dữ liệu lớn: Ứng dụng rộng rãi trong dự báo nhu cầu, mua hàng, điều phối tồn kho, quản lý trưng bày và vận hành tự động — hướng đến giảm chi phí, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả hoạt động. Sự kết hợp giữa Dữ liệu lớn và AI tạo ra trải nghiệm cá nhân hóa cho khách hàng và gia tăng gắn kết thương hiệu.
4. Hệ sinh thái khép kín: Chuỗi giá trị tự vận hành toàn trình: cửa hàng thực tế → thương mại điện tử / Super App → logistics tự sở hữu → giao hàng, lắp đặt và dịch vụ hậu mãi tự vận hành. Sở hữu toàn bộ chuỗi giúp kiểm soát chất lượng dịch vụ tại mọi điểm chạm với khách hàng và phản ứng nhanh với nhu cầu mua sắm đa kênh.
5. ESG: Giảm phát thải, bảo vệ tài nguyên, đa dạng lực lượng lao động và cơ hội bình đẳng. Quản trị minh bạch, chính trực với tư duy làm chủ được lan tỏa từ lãnh đạo đến nhân viên tuyến đầu. Quan hệ đối tác đặt nền tảng trên hiệu quả và ổn định dài hạn.
Cổ tức —2025 so với 2026
HĐQT được linh hoạt điều chỉnh tỷ lệ và thời gian từng đợt trong khi vẫn giữ nguyên tổng tỷ lệ cổ tức 20% đã được ĐHCĐ thông qua.
ESOP — Trong năm 2025 so với năm 2026
- ESOP cho năm 2026 giới hạn ở mức ~0,2% cổ phiếu đang lưu hành, so với 0,5% của ESOP năm 2025. DMX có kế hoạch IPO và niêm yết trong năm 2026, đồng thời đề xuất chương trình quyền chọn cổ phiếu cho nhân viên dựa trên KPI dài hạn. VCSC cho rằng điều này sẽ giúp giảm tỷ lệ ESOP tại MWG và gắn kết tốt hơn lợi ích của nhân viên với từng mảng kinh doanh cụ thể (DMX so với các mảng khác như BHX), từ đó mở khóa tiềm năng tăng trưởng cao hơn cho MWG.
ESOP 2026 áp dụng cơ chế biến đổi hai điều kiện:
Điều kiện 1 — Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch LNST (X = LNST thực tế ÷ 9.200 tỷ VND):
Cứ mỗi 1% vượt kế hoạch → +50.000 cổ phiếu. Giới hạn tối đa đạt được khi LNST ≥ 11.040 tỷ VND (vượt kế hoạch +20%).
Điều kiện 2 — Tăng trưởng giá đóng cửa bình quân ngày của cổ phiếu MWG (trong năm 2026 so với năm 2025) so với tăng trưởng giá trị đóng cửa bình quân ngày của VN-Index:
- MWG ≥ tăng trưởng VN-Index → phát hành 100% A
- MWG < tăng trưởng VN-Index → phát hành 80% A
Tài liệu ĐHCĐ: Tái khẳng định mục tiêu tăng trưởng dựa trên tiềm lực vốn và sự hỗ trợ từ hệ sinh thái
Kế hoạch kinh doanh năm 2026:
- LNTT: 6,5 nghìn tỷ đồng (+44% YoY); Tổng doanh thu: 11,1 nghìn tỷ đồng (+39% YoY).
- Thị phần môi giới: Mục tiêu đạt 5% trên HoSE (tăng từ mức 3,2% trong năm 2025).
- Dư nợ cho vay ký quỹ bình quân: Dự kiến đạt 49,5 nghìn tỷ đồng trong năm 2026 (1,9 tỷ USD; +150% YoY).
- Quan điểm vĩ mô: Mặc dù công ty vẫn thận trọng trước các rủi ro địa chính trị tại Trung Đông, VPX tin rằng môi trường vĩ mô ổn định của Việt Nam cùng các cải cách cơ cấu đang diễn ra với những sáng kiến tăng trưởng then chốt từ Chính phủ sẽ tiếp tục hỗ trợ cho triển vọng tăng trưởng của công ty.
- Tầm nhìn dài hạn: Đến năm 2030, VPX đặt mục tiêu trở thành công ty chứng khoán hàng đầu Việt Nam về tổng tài sản và LNTT, đứng thứ hai về thị phần môi giới và ngân hàng đầu tư (IB). Tốc độ tăng trưởng kép (CAGR) lợi nhuận mục tiêu đạt 32% và tỷ lệ CIR đạt 23-25%.
- Chính sách cổ tức: Mặc dù KQKD năm 2025 rất khả quan, HĐQT kiến nghị không chia cổ tức để đảm bảo nguồn vốn cho HĐKD trong bối cảnh kinh tế toàn cầu và trong nước còn nhiều thách thức.
- Thay đổi nhân sự HĐQT: Tại ĐHCĐ thường niên ngày 20/04/2026, HĐQT sẽ thông qua việc từ nhiệm của thành viên HĐQT Vũ Hữu Điền và bầu bổ sung thành viên mới.
Quan điểm của VCSC:
- Tài liệu ĐHCĐ nhìn chung tái khẳng định các mục tiêu tăng trưởng mà VPX đã đưa ra vào tháng 2 (cao hơn 3% so với dự báo hiện tại của VCSC). VCSC tin rằng công ty có vị thế tốt hơn hầu hết các đối thủ cùng ngành để vượt qua bối cảnh vĩ mô biến động nhờ nền tảng vốn mạnh, lợi thế từ ngân hàng mẹ và vị thế vững chắc trong mảng môi giới và thị trường vốn. Ngoài ra, vị thế đã được khẳng định trong chuỗi giá trị trái phiếu doanh nghiệp (gần 10% thị phần năm 2025) sẽ hỗ trợ bộ đệm tăng trưởng.
- VCSC cũng không kỳ vọng sự thay đổi thành viên HĐQT sẽ có tác động đáng kể đến chiến lược hay việc thực thi chiến lược, xét trên nền tảng tổ chức, sự hỗ trợ từ hệ sinh thái và đội ngũ lãnh đạo dày dạn kinh nghiệm đang tiếp tục được kiện toàn của công ty.
Tài liệu ĐHCĐ của VRE: Kế hoạch LNST năm 2026 giảm 17% YoY so với mức nền cao của năm 2025 nhưng tăng 15% YoY trên cơ sở so sánh tương đương, phù hợp với kỳ vọng
CTCP Vincom Retail (VRE) đã công bố các tờ trình sẽ được trình cổ đông thông qua tại ĐHCĐ của công ty vào ngày 23/04.
- Kế hoạch năm 2026: VRE đề xuất mục tiêu doanh thu thuần năm 2026 là 10,1 nghìn tỷ đồng (+15% YoY), bao gồm doanh thu mảng cho thuê bán lẻ là 9,7 nghìn tỷ đồng (+16% YoY; chiếm 96% tổng doanh thu) và LNST là 5,4 nghìn tỷ đồng (-17% YoY). Theo công ty, trên cơ sở so sánh tương đương (LFL) (loại trừ kết quả kinh doanh của VCC Nguyễn Chí Thanh, khoản lãi từ chuyển nhượng cổ phần công ty Vincom NCT, và thu nhập bồi thường khác trong năm 2025), mục tiêu tăng trưởng YoY của năm 2026 sẽ là 16% đối với tổng doanh thu, 14% đối với doanh thu cho thuê bán lẻ, và 15% đối với LNST. Các mục tiêu này nhìn chung phù hợp với kế hoạch của ban lãnh đạo về mức tăng trưởng hai chữ số (10-15%) đối với doanh thu cho thuê bán lẻ và LNST trên cơ sở LFL, như đã nêu trong cuộc họp công bố KQKD vào tháng 01 của công ty.
- Kế hoạch này nhìn chung phù hợp với kỳ vọng hiện tại của VCSC, tương đương 99% dự báo LNST năm 2026 của VCSC.
- Trong quá khứ, kết quả LNST của VRE trong các năm 2022/23/24/25 lần lượt tương đương 116%/94%/93%/137% so với kế hoạch được đặt ra vào đầu mỗi năm (VCSC lưu ý rằng năm 2025 có mức nền cao do ghi nhận khoản lãi trước thuế 1,9 nghìn tỷ đồng từ việc chuyển nhượng cổ phần công ty Vincom NCT).
- Kế hoạch khai trương TTTM trong năm 2026: Ban lãnh đạo đặt mục tiêu sẽ khai trương Vincom Plaza Đan Phượng tại Wonder City (Hà Nội; tổng diện tích sàn-GFA bán lẻ: khoảng 25.000 m²) trong năm 2026, không thay đổi so với kế hoạch được đưa ra trong cuộc họp công bố KQKD vào tháng 01.
- Phương án phân phối lợi nhuận giữ lại năm 2025: Ban lãnh đạo đề xuất giữ lại toàn bộ phần lợi nhuận chưa phân phối lũy kế năm 2025 để sử dụng cho hoạt động kinh doanh của công ty.
- Bổ sung ngành nghề kinh doanh: VRE đề xuất đăng ký bổ sung các ngành nghề kinh doanh, bao gồm cho thuê tài sản vô hình phi tài chính, các hoạt động dịch vụ hỗ trợ vận tải, kho bãi, lưu trữ và đóng gói, nhằm mở rộng phạm vi hoạt động.
Phát hành quyền mua 14% để huy động 1,2 nghìn tỷ đồng; đẩy mạnh mở rộng với 4 dự án mới tại Phú Quốc - Báo cáo ĐHCĐ
- VCSC đã tham dự ĐHCĐ của Tổng công ty nước - môi trường Bình Dương (BWE) vào ngày 27/03, trong đó ban lãnh đạo đã cung cấp thêm chi tiết về kế hoạch phát hành khoảng 1,16 nghìn tỷ đồng quyền mua nhằm tài trợ cho hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A), mở rộng mảng điện rác và trả nợ. Nhìn chung, VCSC nhận thấy rủi ro điều chỉnh giảm nhẹ đối với dự báo lợi nhuận năm 2026 của VCSC, do khả năng việc tăng giá xử lý rác sẽ diễn ra muộn hơn kỳ vọng, kết hợp với mức chi phí nhân công cao hơn dự kiến, và việc phải trích một phần vốn đầu tư XDCB cho hoạt động nâng cấp các tuyến ống cũ, dù cần thêm đánh giá chi tiết. Hiện tại, VCSC đang có khuyến nghị MUA đối với BWE với giá mục tiêu là 58.700 đồng/cổ phiếu.
- BWE hiện đang đặt kế hoạch tăng vốn, theo đó vốn điều lệ sẽ tăng từ 2,2 nghìn tỷ đồng lên 2,5 nghìn tỷ đồng (+14,3%) thông qua việc phát hành quyền mua theo tỷ lệ 7:1.
- Số lượng cổ phiếu chào bán: 31,4 triệu cổ phiếu
- Giá chào bán: 37.000 đồng/cổ phiếu (gấp 1,4 lần giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu
- BVPS, thấp hơn 14% so với giá đóng cửa ngày 27/03).
- Tổng số tiền dự kiến thu về: khoảng 1,16 nghìn tỷ đồng.
- Kế hoạch sử dụng vốn dự kiến:
+ 14% (khoảng 164 tỷ đồng): M&A CTCP Cấp nước Ninh Thuận (UPCoM: NNT). Vào tháng 01/26, BWE đã chi 109 tỷ đồng để mua 24,8% cổ phần, đồng thời, công ty cũng dự kiến sẽ chi thêm 55 tỷ đồng để mua thêm 12,4% cổ phần, qua đó nâng tổng tỷ lệ sở hữu tại NNT lên mức 37,2%.
+ 19% (khoảng 225 tỷ đồng): Đầu tư vào nhà máy điện rác 12MW tại Bình Dương với tổng giá trị đầu tư 1,2 nghìn tỷ đồng.
+ 67% (khoảng 773 tỷ đồng): Thanh toán các khoản nợ đến hạn.
- Thời gian thực hiện: trong năm 2026 hoặc 2027, tùy thuộc vào phê duyệt của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN).
- Chính sách chia cổ tức nhìn chung phù hợp với dự báo. BWE dự kiến sẽ chi trả cổ tức tiền mặt ở mức 1.300 đồng/cổ phiếu cho năm 2025, phù hợp với dự báo của VCSC. Ngoài ra, BWE cũng đề xuất kế hoạch chi trả cổ tức năm 2026 với mức cổ tức tiền mặt tối thiểu ở mức 1.300 đồng/cổ phiếu (thấp hơn nhẹ so với dự báo của VCSC là 1.400 đồng/cổ phiếu).
- Kế hoạch năm 2026 tương đối thận trọng: Ban lãnh đạo đặt mục tiêu cho doanh thu của Tập đoàn - Công ty mẹ & các công ty con (chưa có số liệu hợp nhất) ở mức 5,4 nghìn tỷ đồng (-5% YoY) và LNST ở mức 770 tỷ đồng (-15% YoY, bình thường hóa từ mức nền cao của năm 2025 với khoảng 50 tỷ đồng đến từ khoản lãi thoái vốn). VCSC lưu ý rằng BWE thường đặt kế hoạch tương đối thận trọng. Cụ thể, trong năm 2025, công ty đã vượt kế hoạch LNST khoảng 50%. Kế hoạch trên cũng lần lượt tương đương với mức tăng trưởng doanh thu và LNST là 13% và 20% so với kế hoạch năm 2025.
- BWE quyết tâm đề xuất tăng giá nước, đặt mục tiêu hoàn tất việc tăng giá trong năm nay (phù hợp với kỳ vọng của VCSC). Nguyên nhân của mục tiêu này chủ yếu đến từ Thông tư 145/BTC (ban hành ngày 31/12/2025) về việc xác định giá nước sạch, đã cung cấp cơ sở, công thức và khung chi phí để cơ quan chức năng có thể đưa ra quyết định.
- Mảng xử lý rác thải: BWE hiện đang đề xuất tăng giá xử lý rác sinh hoạt và cam kết cải thiện khả năng sinh lời của mảng này. Tuy nhiên, VCSC nhận thấy khả năng phê duyệt đề xuất này sẽ diễn ra muộn hơn kỳ vọng, cụ thể là sẽ rơi vào khoảng cuối năm 2026 thay vì giả định hiện tại của VCSC là giữa năm 2026. Ngoài ra, theo BWE, lò đốt rác công suất 12MW hiện vẫn chưa được đấu nối vào lưới điện quốc gia cho đến cuối năm 2026.
- 1,4 nghìn tỷ đồng vốn đầu tư XDCB cho cụm hạ tầng Phú Quốc dự kiến sẽ giúp mở rộng thêm mảng nước và mảng xử lý rác. BWE hiện đang phát triển một cụm tiện ích toàn diện tại Phú Quốc, trong đó bao gồm một nhà máy xử lý nước (49.500 m3/ngày, tương đương khoảng 6% công suất của BWE) và 3 nhà máy xử lý rác với tổng công suất 560-660 tấn/ngày (bao gồm một nhà máy điện rác 4MW). Tổng giá trị đầu tư cho nhà máy nước là khoảng 556 tỷ đồng, và khoảng 820 tỷ đồng cho mảng xử lý rác. Theo BWE, công ty dự kiến sẽ phát hành khoảng 1 nghìn tỷ đồng trái phiếu, với lãi suất kỳ vọng khoảng 8% và dự kiến sẽ giải ngân vào cuối quý 2/2026. BWE đã khởi công các dự án và hiện đang trong quá trình xây dựng. Công ty hiện đặt mục tiêu hoàn thành vào ngày 31/03/2027, nhằm đảm bảo khả năng sẵn sàng vận hành cho Hội nghị APEC dự kiến diễn ra vào quý 3/2027. BWE tự tin có thể đáp ứng tiến độ này và đang lên kế hoạch đẩy nhanh tiến độ, với khả năng sẽ rút ngắn thời gian thi công đến 20%. Ngoài ra, BWE cũng kỳ vọng rằng giá nước và giá xử lý rác sẽ được thiết lập ở mức hấp dẫn, qua đó hỗ trợ khả năng sinh lời trong dài hạn.
- Biwase Long An (công ty con do BWE sở hữu 74%): ghi nhận KQKD khả quan trong năm 2025, với doanh thu 345 tỷ đồng (vượt kế hoạch 44%) và LNST 26 tỷ đồng (tương đương 3% LNST hợp nhất của BWE). Trong năm 2025, Biwase Long An đã tăng gấp đôi công suất lên mức 120.000 m3/ngày (hiện đang vận hành ở mức 70.000 m3/ngày). Ngoài ra, công ty cũng đang xây dựng tuyến ống nước sạch dài 18km, và đặt mục tiêu sẽ đưa vào vận hành vào ngày 30/04/2026, nhằm tối đa hóa hiệu suất hoạt động của nhà máy.
- BWE hiện có kế hoạch tái cơ cấu mảng cấp nước tại Bình Dương bằng cách hợp nhất 8 chi nhánh cấp nước thành 4 công ty con nhằm cải thiện hiệu quả vận hành và khả năng sinh lời:
- Biwase Dĩ An: công suất 410.000 m3/ngày.
- Biwase Thủ Dầu Một: công suất 281.000 m3/ngày.
- Biwase Bàu Bàng: công suất 63.000 m3/ngày.
- Biwase Tân Uyên: công suất 43.000 m3/ngày.
- BWE đã điều chỉnh lại tỷ lệ phân bổ cho quỹ khen thưởng và phúc lợi so với các năm trước: Cụ thể, công ty đã giảm quỹ khen thưởng và phúc lợi từ 14% xuống 12% LNST Công ty mẹ và giảm quỹ thưởng ban điều hành từ 3% xuống 2% LNST Công ty mẹ, đồng thời tăng quỹ lương nhân viên từ ≤11% lên ≤12,5% doanh thu. Một phần nguyên nhân của việc điều chỉnh này là do chi phí lao động gia tăng.
Giảm lỗ từ NT 3&4, hiện tượng El Nino giúp thúc đẩy lợi nhuận - Cập nhật
- VCSC tăng giá mục tiêu cho Tổng Công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (POW) thêm 16,8% lên 16.700 đồng/cổ phiếu và nâng khuyến nghị từ KHẢ QUAN lên MUA.
- Giá mục tiêu cao hơn của VCSC được thúc đẩy bởi mức tăng 16,1% trong dự báo tổng LNST sau lợi ích CĐTS giai đoạn 2026-2030 (tương ứng +27%/-10%/+16%/+14%/+27% cho dự báo các năm 2026/27/28/29/30).
- VCSC nâng dự báo tổng LNST sau lợi ích CĐTS do dự báo (1) tổng LNST từ Nhơn Trạch 3&4 (NT 3&4) tăng gấp đôi nhờ doanh thu ngoài huy động trong năm 2026 và giá LNG bình quân thấp hơn 12%, (2) tổng LNST từ Vũng Áng cao hơn 7% (do tổng sản lượng điện thương phẩm tăng 2% lên 33,8 tỷ kWh từ mức 33,2 tỷ kWh trước đó trong bối cảnh tiềm năng xảy ra hiện tượng El Nino vào cuối năm 2026-2027), và (3) tổng LNST của NT2 cao hơn 8% (xem thêm Báo cáo Cập nhật NT2 của VCSC ngày 26/02/2026).
- VCSC dự phóng LNST sau lợi ích CĐTS báo cáo năm 2026 tăng 9% YoY với lợi nhuận mạnh mẽ hơn từ nhà máy Cà Mau bù đắp cho khoản lỗ ước tính 433 tỷ đồng từ NT 3&4.
- Định giá của POW có vẻ tương đối hấp dẫn với P/E dự phóng năm 2026 là 16,5 lần, tương ứng với mức PEG là 0,6 dựa trên tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) EPS giai đoạn 2026-28 là 30%. CAGR EPS ở mức cao chủ yếu đến từ NT 3&4 với LNST ước tính đạt 615 tỷ đồng vào năm 2028 so với mức lỗ 433 tỷ đồng trong năm 2026.
- Yếu tố hỗ trợ: Khoản bồi thường lỗ tỷ giá cao hơn dự kiến, các dự án mới.
- Rủi ro: Sản lượng năm 2027 thấp hơn và tỷ giá USD/VND tăng mạnh hơn dự kiến.
Nhận xét
Đăng nhận xét