Tổng hợp khuyến nghị thị trường hàng ngày (24/04/2026)– MWG, HPG, VHM, VIC, HDC, TLG, VNM, DCM, DGW, HPA, GAS, DPM, PC1, VPB, TCB, TNG, PVD, KBC, MBB, STK, FPT, CTR, NVL
Ngày 24/04/2026
SSI khuyến nghị MUA cp HPG (TP: 35), KHẢ QUAN cp MWG (TP: 110), TRUNG LẬP cp VHM (TP: 110.3), cập nhật VIC
VCSC khuyến nghị PHÙ HỢP THỊ TRƯỜNG cp DPM (TP: 31.2), cập nhật KBC, MBB, STK, CTR, NVL, DGW (TP: 45.4), FPT (TP: 116.6), HDC, TLG, VNM, DCM, DGW, HPA, HPG
MBS khuyến nghị TRUNG LẬP cp GAS (TP: 83.8)
VNDS cập nhật DPM, PC1, VPB, TCB
MASVN khuyến nghị MUA cp TNG (TP: 26.5)
BSC khuyến nghị MUA cp PVD (TP: 39.45)
CÁC KHUYẾN NGHỊ PHÂN TÍCH CƠ BẢN
SSI
Tăng trưởng vượt kỳ vọng
Mặc dù tăng dự báo lợi nhuận ròng năm 2026 lên 9,51 nghìn tỷ đồng (+34% svck, từ 9,35 nghìn tỷ đồng), chúng tôi giảm giá mục tiêu 12 tháng xuống 110.000 đồng/cp (từ 115.000 đồng), dựa trên phương pháp SOTP, và hạ khuyến nghị xuống KHẢ QUAN (từ MUA). Điều này phản ánh quan điểm thận trọng hơn trong bối cảnh mặt bằng lãi suất neo ở mức cao. MWG hiện đang giao dịch P/E dự phóng năm 2026 ở mức 13,5x, thấp hơn so với mức trung bình 5 năm là 17x.
Luận điểm đầu tư
- Bước ngoặt lợi nhuận từ chuỗi bách hóa: Việc thay đổi chính sách thuế đối với hộ kinh doanh cá thể từ thuế khoán sang thuế trên doanh thu góp phần cải thiện tính cạnh tranh của chuỗi bán lẻ hiện đại.
- Mảng sản phẩm công nghệ & điện máy dần phục hồi: Được hỗ trợ từ nhu cầu thay mới/nâng cấp điện thoại và máy tính xách tay, và tình trạng thiếu hụt RAM góp phần hỗ trợ tăng giá bán.
- Kế hoạch IPO Điện Máy Xanh (DMX) dự kiến vào tháng 5/2026 mở ra tiềm năng định giá lại cho mảng này.
Điểm nhấn ĐHCĐ
- Kế hoạch kinh doanh 2026: Doanh thu 185 nghìn tỷ đồng (+19% svck) và lợi nhuận ròng 9,2 nghìn tỷ đồng (+30% svck).
- Tỷ lệ cổ tức tiền mặt năm 2025 tăng lên 20% mệnh giá (so với 10% trong năm 2024).
- ESOP năm 2025 được thông qua với tỷ lệ 0,5% tổng số cổ phiếu đang lưu hành, trong khi kế hoạch 2026 là tối đa 3 triệu cổ phiếu (0,2% tổng số cổ phiếu đang lưu hành).
- KQKD sơ bộ Q1/2026: Doanh thu ước tính đạt 46,5 nghìn tỷ đồng (+29% svck). Lợi nhuận ròng đạt 2,7 nghìn tỷ đồng (+74% svck), trong đó mảng sản phẩm công nghệ & điện máy đóng góp 2,2 nghìn tỷ đồng (+47% svck) và mảng bách hóa đóng góp 500 tỷ đồng, cải thiện đáng kể so với Q1/2025 là 22 tỷ đồng. Theo đó, biên lợi nhuận ròng của chuỗi Bách Hóa Xanh (BHX) tăng lên 3,6% trong Q1/2026 (từ 3,0% trong Q4/2025), mặc dù công ty vẫn đang mở rộng ra khu vực miền Bắc.
Toàn lực tiến về phía trước
Chúng tôi duy trì khuyến nghị MUA đối với HPG và điều chỉnh tăng giá mục tiêu cuối năm 2026 lên 36.000 đồng/cổ phiếu (từ 35.000 đồng/cổ phiếu phản ánh tiềm năng tăng trưởng sáng hơn, tương ứng với tiềm năng tăng giá 27,7%, theo phương pháp kết hợp P/E và EV/EBITDA. Cổ phiếu HPG tiếp tục là lựa chọn ưu tiên hàng đầu của chúng tôi trong chủ đề đầu tư hạ tầng và là cổ phiếu được ưa thích trong ngành Thép năm 2026.
Luận điểm đầu tư
- Năm 2026 là năm đầu tiên vận hành trọn vẹn của Khu liên hợp thép Dung Quất 2, với công suất 9 triệu tấn HRC, đồng thời cũng là năm đầu tiên áp dụng đầy đủ thuế chống bán phá giá đối với HRC nhập khẩu từ Trung Quốc. Theo đó, doanh thu và lợi nhuận cốt lõi dự kiến tăng trưởng mạnh, lần lượt tăng 40% và 47% svck.
- Kế hoạch đầu tư quy mô lớn của Chính phủ, khoảng 38 triệu tỷ đồng trong 10 năm tới, sẽ thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ thép, trong khi áp lực cạnh tranh từ hàng nhập khẩu được hạn chế nhờ các biện pháp phòng vệ thương mại và thuế chống bán phá giá áp dụng đối với các sản phẩm thép chủ chốt, đặc biệt là HRC và thép xây dựng.
- Việc triển khai bổ sung thuế chống bán phá giá đối với HRC khổ rộng tạm thời từ Q2/2026 sẽ tiếp tục củng cố hàng rào bảo hộ cho các sản phẩm chủ lực của HPG, qua đó đảm bảo triển vọng ngành tích cực trong dài hạn.
Điểm chính từ ĐHCĐ
- KQKD Q1/2026: Doanh thu đạt 53.000 tỷ đồng (+40% svck) và LNST hợp nhất đạt 9.056 tỷ đồng (+170% svck). Trong đó, lợi nhuận từ hoạt động thép cốt lõi đóng góp 5.200 tỷ đồng (+55% svck), phần còn lại khoảng 3.800 tỷ đồng đến từ việc chuyển nhượng dự án bất động sản Phố Nối Hưng Yên.
- Kế hoạch kinh doanh năm 2026: Doanh thu thuần hợp nhất đạt 210.000 tỷ đồng (+34,5% svck) và LNST đạt 22.000 tỷ đồng (+41,8% svck). Mục tiêu này có khả năng trở nên thận trọng khi xét trên kết quả sơ bộ Q1/2026 và quan điểm tích cực của ban lãnh đạo về triển vọng ngành thép cũng như nhu cầu thị trường.
- Cổ tức năm 2025: 15% bằng cổ phiếu và 5% bằng tiền mặt/mệnh giá. Kế hoạch cổ tức năm 2026 dự kiến ở mức 15%.
Cập nhật Đại hội Cổ đông 2026
Cổ đông của VHM đã thông qua kế hoạch kinh doanh năm 2026 với doanh thu thuần đạt 285 nghìn tỷ đồng (+56% svck và +14% so với kế hoạch ban đầu là 250 nghìn tỷ đồng). Lợi nhuận sau thuế (LNST) dự kiến đạt 60 nghìn tỷ đồng (+38% svck và +20% so với kế hoạch ban đầu là 50 nghìn tỷ đồng), trong đó khoảng 30–40% đến từ doanh thu chưa ghi nhận tính đến cuối năm 2025 của các dự án Wonder City, Royal Island, Ocean Park 2, Golden City và Green City. Trong giai đoạn 2021-2025, VHM liên tục đạt hoặc vượt kế hoạch LNST. Kế hoạch LNST của VHM hiện cao hơn 40% so với ước tính của chúng tôi.
Cổ đông cũng đã thông qua kế hoạch chia cổ tức bằng tiền mặt với tỷ lệ 60% (tương đương lợi suất cổ tức khoảng 4%) và cổ tức cổ phiếu tỷ lệ 100%.
Trong Q1/2026, VHM đã mở bán dự án Hải Vân Bay và ghi nhận kết quả bán hàng tích cực, với tỷ lệ hấp thụ khoảng 80–90% đối với các sản phẩm mở bán. Doanh số bán hàng sơ bộ trong Q1/2026 ước tính đạt 70–80 nghìn tỷ đồng (+64–87% so với quý trước và +100–129% svck). Doanh số bán hàng cả năm 2026 kỳ vọng đạt 300–350 nghìn tỷ đồng (+46–65% svck), nhờ đóng góp từ các dự án đang triển khai và dự án mở bán mới, bao gồm Hải Vân Bay, Global Gate Hạ Long và Khu đô thị Đại học Quốc tế. Doanh số bán hàng theo kế hoạch cao hơn 85%–116% so với ước tính của chúng tôi.
Chúng tôi cho rằng kế hoạch kinh doanh 2026 của VHM khá tham vọng, đặc biệt trong bối cảnh thị trường bất động sản năm 2026 còn nhiều thách thức, khi nguồn cung gia tăng nhưng nhu cầu bị kìm hãm bởi mặt bằng lãi suất cao. Khả năng VHM hoàn thành kế hoạch sẽ phụ thuộc đáng kể vào việc triển khai thành công các giao dịch bán buôn quy mô lớn.
Chúng tôi hiện khuyến nghị TRUNG LẬP đối với VHM với giá mục tiêu là 110.300 đồng/cp. VHM đang giao dịch ở mức P/E và P/B trượt lần lượt là 14,3x và 2,5x, cao hơn trung bình 5 năm là 7,9x và 1,7x. Chúng tôi đang xem xét lại giá mục tiêu và các ước tính và sẽ cập nhật trong báo cáo tiếp theo.
Cập nhật Đại hội Cổ đông 2026
- Kế hoạch kinh doanh năm 2026: Cổ đông đã thông qua kế hoạch kinh doanh năm 2026 với doanh thu thuần đạt 485 nghìn tỷ đồng (+46% svck và +8% so với kế hoạch ban đầu là 450 nghìn tỷ đồng) và lợi nhuận sau thuế (LNST) đạt 35 nghìn tỷ đồng (+216% svck và +40% so với kế hoạch ban đầu là 25 nghìn tỷ đồng). Lợi nhuận điều chỉnh tăng thêm của VIC nhìn chung phù hợp với phần kế hoạch lợi nhuận tăng thêm của VHM.
- Phân phối lợi nhuận: Cổ đông đã thông qua kế hoạch không chia cổ tức cho năm 2025 mà giữ lại toàn bộ lợi nhuận để dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
- VinFast: VinFast đặt mục tiêu bàn giao 300.000 xe ô tô điện trong năm 2026 (+52% svck), trong đó số lượng xe bàn giao ở thị trường Việt Nam chiếm hơn 200.000 xe, và số xe máy điện bàn giao tăng ít nhất 2,5 lần so với năm 2025. Trong năm 2025, VinFast đã bàn giao 196.919 ô tô điện trên toàn cầu (+102% svck), hoàn thành kế hoạch cả năm. Trong Q1/2026, VinFast bàn giao 53.684 xe ô tô điện tại Việt Nam (+53% svck), tương đương khoảng 27% kế hoạch bàn giao xe tại thị trường nội địa cả năm.
Ban lãnh đạo tái khẳng định mục tiêu của VinFast là duy trì vị thế dẫn đầu tại thị trường nội địa, đồng thời mở rộng sang các thị trường quốc tế trọng điểm và dự kiến hòa vốn EBITDA vào năm 2027. Nguồn vốn cho VinFast trong năm 2026 đã được đảm bảo.
- Vinpearl: Vinpearl đặt mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng doanh thu năm 2026 thông qua tối ưu hóa tỷ lệ lấp đầy và lượng khách tham quan, mở rộng nhu cầu từ các thị trường mới/tăng trưởng cao, đồng thời gia tăng chi tiêu tại chỗ của khách hàng. Vinpearl cũng điều chỉnh kế hoạch lợi nhuận, với lợi nhuận sau thuế tăng mạnh đạt 3 nghìn tỷ đồng (+172% svck và +100% so với kế hoạch ban đầu).
- Kế hoạch IPO GreenSM (Vingroup sở hữu 5%): Các bước pre-IPO dự kiến trong 2 -3 tháng tới, và IPO chính thức vào năm 2028.
Chúng tôi cho rằng kế hoạch kinh doanh năm 2026 của Vingroup là tương đối tham vọng, dựa trên kỳ vọng các mảng kinh doanh cốt lõi phục hồi. Khả năng Vingroup hoàn thành kế hoạch sẽ phần lớn phụ thuộc vào tốc độ cải thiện hiệu quả vận hành cũng như năng lực triển khai dự án. Chúng tôi sẽ cập nhật chi tiết ước tính sau buổi họp công bố kết quả kinh doanh Q1/2026 trong báo cáo tiếp theo.
VIC hiện đang giao dịch với hệ số P/E và P/B trượt lần lượt là 137,1x và 10,7x, cao hơn đáng kể so với mức trung bình 5 năm là 56,8x và 3,3x.
VCSC
KQKD quý 1 tăng mạnh so với cùng kỳ từ mức nền thấp nhờ hoạt động bàn giao BĐS cải thiện - Báo cáo KQKD
- CTCP Phát triển Nhà Bà Rịa - Vũng Tàu (HDC) ghi nhận KQKD quý 1/2026 tăng trưởng mạnh với doanh thu đạt 249 tỷ đồng (+42% QoQ; +151% YoY) và LNST sau lợi ích CĐTS đạt 57 tỷ đồng (+92% QoQ; +322% YoY), được thúc đẩy bởi hoạt động bàn giao BĐS cải thiện – chủ yếu từ dự án Ngọc Tước 2 và The Light City Giai đoạn 1 – bù đắp cho chi phí tài chính tăng so với cùng kỳ.
- Do LNST sau lợi ích CĐTS quý 1/2026 đã hoàn thành 18% dự báo cả năm của VCSC (315 tỷ đồng; -51% so với mức nền cao của năm 2025), VCSC nhận thấy không có thay đổi đáng kể đối với dự báo của VCSC cho HDC, dù cần thêm đánh giá chi tiết.
- Tại thời điểm cuối quý 1/2026, số dư tiền mặt của HDC là 29 tỷ đồng, so với 499 tỷ đồng vào cuối năm 2025, VCSC cho rằng chủ yếu do công ty đã chi trả nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và trả nợ trong quý. Tỷ lệ nợ vay ròng trên vốn chủ sở hữu của HDC đã tăng lên 69,3% vào cuối quý 1/2026 so với 57,9% vào cuối năm 2025.
- HDC thông báo dự án nhà ở xã hội Eco Home 1 (Bà Rịa Vũng Tàu; 340 căn hộ) đã nhận được giấy phép bán hàng vào tháng 4/2026, phù hợp với kỳ vọng của VCSC về đóng góp của dự án này vào dự báo doanh số bán BĐS năm 2026 cho HDC (dự báo của VCSC: 1.100 tỷ đồng; gấp 3,6 lần so với ước tính cho năm 2025).
Kế hoạch năm 2026 thận trọng dù KQKD quý 1 tích cực - Báo cáo ĐHCĐ & Báo cáo KQKD
VCSC đã tham dự ĐHCĐ năm 2026 của CTCP Tập đoàn Thiên Long (TLG) vào ngày 22/04/2026. Ban lãnh đạo đã đưa ra kế hoạch lợi nhuận năm 2026 mang tính thận trọng dù đà tăng trưởng trong quý 1 rất tích cực, với lý do gia tăng giá nguyên vật liệu và biến động chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, ban lãnh đạo vẫn lạc quan về sự tăng trưởng trung hạn, được hỗ trợ bởi việc mở rộng xuất khẩu, thâm nhập kênh thương mại điện tử, chiến lược cao cấp hóa sản phẩm và quan hệ đối tác chiến lược dự kiến với Kokuyo.
1. Kế hoạch và triển vọng năm 2026
- Doanh thu: 4.4 nghìn tỷ đồng (+5% YoY; đạt 94% dự báo cả năm của VCSC). - LNST: 440 tỷ đồng (-1,1% YoY; đạt 81% dự báo cả năm của VCSC). Nếu loại trừ các khoản thu nhập bất thường, LNST cốt lõi vẫn cho thấy mức tăng trưởng khoảng 10% YoY.
- VCSC tin rằng TLG đã đặt ra kế hoạch thận trọng. TLG thường vượt kế hoạch kinh doanh, đạt trung bình khoảng 110% kế hoạch LNST trong giai đoạn 2015-2025. Tuy nhiên, dự báo của VCSC đang được đánh giá lại.
- Ban lãnh đạo đặt mục tiêu doanh thu thương mại điện tử đóng góp 20% doanh thu nội địa vào năm 2030 (so với mức khoảng 9% hiện tại), trong khi doanh thu xuất khẩu được kỳ vọng tăng trưởng khoảng 20%/năm.
2. KQKD sơ bộ quý 1/2026
- Doanh thu: 1.0 nghìn tỷ đồng (+26% YoY; đạt 21% dự báo cả năm của VCSC). Trong đó, doanh thu nội địa tăng 26% và doanh thu quốc tế tăng 20% YoY.
- LNST: 161 tỷ đồng (+48% YoY; đạt 30% dự báo cả năm của VCSC).
- KQKD tích cực trong quý 1 chủ yếu nhờ sản lượng bán hàng tăng cao. Điều này được hỗ trợ bởi một phần đơn hàng bị hoãn từ quý 4/2025 chuyển sang quý 1/2026, cùng với việc khách hàng chủ động nhập hàng trước khi TLG tăng giá bán trung bình. Về giá bán trung bình, TLG đã tăng giá bán khoảng 4-5% gần đây và có thể sẽ tiếp tục điều chỉnh thêm, nhằm chuyển giao chi phí sang người tiêu dùng và hỗ trợ giảm bớt áp lực lên biên lợi nhuận.
- Ban lãnh đạo lưu ý rằng họ đã tích trữ hàng tồn kho cho hoạt động sản xuất trong quý 2 và quý 3, giúp giảm thiểu tác động ngắn hạn lên biên lợi nhuận gộp trong bối cảnh chi phí đầu vào trung bình của ngành tăng mạnh (ví dụ: một số loại hạt nhựa tăng giá gấp đôi, trong khi vật liệu bao bì và đầu bút tăng 20%-30%). Để giảm thiểu áp lực này, TLG cũng đang đàm phán các điều khoản mua hàng, tăng giá bán có chọn lọc khi cần thiết và tiếp tục tối ưu hóa hiệu quả vận hành trên toàn bộ chuỗi giá trị. - Nhìn chung, VCSC nhận thấy rủi ro điều chỉnh giảm nhẹ so với dự báo của mình do chi phí đầu vào tăng và kế hoạch kinh doanh thấp hơn kỳ vọng, dù cần thêm đánh giá chi tiết.
3. Thương vụ chiến lược Kokuyo x TLG - Giao dịch hiện đang trong quá trình chờ cơ quan quản lý phê duyệt. Sau thương vụ, ông Thọ
- Chủ tịch TLG - cho biết ông dự kiến sẽ tiếp tục đồng hành cùng TLG trong ít nhất ba năm tới. Ông cũng kỳ vọng chính sách cổ tức sẽ không thay đổi.
- Ban lãnh đạo nhấn mạnh Kokuyo là đối tác OEM/ODM dài hạn với hơn 100 năm kinh nghiệm và vị thế khu vực vững chắc, đặc biệt ở châu Á. Quan trọng hơn, Kokuyo có lịch sử đầu tư vào các công ty văn phòng phẩm địa phương nhưng vẫn bảo tồn các thương hiệu nội địa, điều này phù hợp với chiến lược tăng trưởng nhưng vẫn giữ vững thương hiệu Thiên Long của TLG.
- Thế mạnh của Kokuyo ở mảng tập vở (thương hiệu Campus) và năng lực nghiên cứu phát triển sẽ bổ trợ cho vị thế dẫn đầu của TLG trong mảng dụng cụ viết, đồng thời giúp đẩy nhanh quá trình mở rộng của TLG sang các danh mục văn phòng phẩm khác.
4. Các nội dung thảo luận khác
- Ban lãnh đạo cho biết TLG không có ý định cạnh tranh khốc liệt ở phân khúc giá rẻ, vì điều này có thể gây tổn hại đến lợi nhuận cho cổ đông và chất lượng sản phẩm. Thay vào đó, công ty tập trung bảo vệ thị phần thông qua các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn, đổi mới liên tục (gần 80 sản phẩm mới được tung ra trong năm 2025), tích hợp chuỗi cung ứng, tăng cường thực thi bán lẻ/địa phương hóa với hỗ trợ hướng dẫn tại cửa hàng, và nâng cao năng lực tự sản xuất. 5. Kế hoạch chi trả cổ tức
- Cổ tức năm 2025: 35% bằng tiền mặt - khoản này đã được tạm ứng trong năm 2025 - phù hợp với dự báo hiện tại của VCSC.
- Cổ tức năm 2026: 35% mệnh giá bằng tiền mặt và/hoặc cổ phiếu. VCSC hiện dự báo mức 40% mệnh giá bằng tiền mặt.
Năng lực cạnh tranh mạnh, triển vọng tăng trưởng một chữ số trong năm 2026 - Báo cáo ĐHCĐ & KQKD
VCSC đã tham dự ĐHCĐ của CTCP Sữa Việt Nam (VNM) vào ngày 22/04/2026. ĐHCĐ ghi nhận mức độ tương tác Hỏi & Đáp đặc biệt cao với 46 câu hỏi được gửi và trả lời. Dưới đây là các điểm chính VCSC ghi nhận được.
Kế hoạch năm 2026 và triển vọng
- Ban lãnh đạo ước tính VNM đã tiếp tục gia tăng thị phần trong quý 1/2026. Số liệu ước tính của Nielsen cho giai đoạn 6 tháng đầu năm 2026 (6T 2026) sẽ được công bố vào tháng 7/2026.
- Mảng tiêu dùng nhanh (FMCG) ghi nhận sự cải thiện trong quý 1/2026, với doanh số tăng +4,3% YoY theo Nielsen. Tuy nhiên, ngành sữa vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức khi ghi nhận mức giảm 3,7% YoY.
- Ban lãnh đạo dự báo thị trường trong năm 2026 sẽ tăng trưởng khiêm tốn ở mức 1,5%-2% so với năm 2025, trong đó vị thế dẫn đầu của Vinamilk có khả năng sẽ là động lực thúc đẩy mức cải thiện này.
- Trong trường hợp không có các diễn biến tích cực đáng kể và trong bối cảnh bất ổn địa chính trị, sức mua của người tiêu dùng khó có khả năng phục hồi mạnh. Ban lãnh đạo cho rằng kịch bản tích cực với tăng trưởng hai chữ số chỉ khả thi nếu các yếu tố bất định này được giải quyết. KQKD sơ bộ quý 1/2026: tăng trưởng lợi nhuận mạnh từ mức nền thấp
- Doanh thu ghi nhận đà tăng trưởng ở tất cả các nhóm sản phẩm.
- Tăng trưởng lợi nhuận vượt đáng kể tăng trưởng doanh thu nhờ đòn bẩy hoạt động.
- Tính đến ngày 21/04/2026, kết quả kinh doanh tiếp tục duy trì mức tăng trưởng hai chữ số.
- VCSC lưu ý rằng quý 1/2025 ghi nhận mức nền thấp do gián đoạn về mặt quy định đối với các nhà phân phối trên kênh truyền thống (GT), cũng như do VNM tự tái cơ cấu hệ thống phân phối/lực lượng bán hàng. Triển vọng Trung hạn
- Tăng trưởng thị trường: Ban lãnh đạo cho rằng mục tiêu tăng trưởng hai chữ số mỗi năm là khó khả thi.
- Các nhóm tăng trưởng cao: sữa thực vật, sữa bột người lớn, sữa chua uống men sống, các sản phẩm sữa cao đạm.
- Các nhóm tăng trưởng ổn định: sữa nước, sữa bột trẻ em, sữa chua ăn, sữa đặc.
DCM tái khẳng định triển vọng tích cực cho ngành urê trong Quý 2 và nửa cuối năm; mục tiêu đầy tham vọng đến năm 2030 - Báo cáo ĐHCĐ
Tại ĐHCĐ năm 2026, ban lãnh đạo DCM đã tái khẳng định triển vọng tích cực đối với giá urê và lợi nhuận trong năm 2026, nhất quán với các thông điệp tại cuộc họp gặp gỡ nhà đầu tư (NĐT) ngày 08/04/2026. Cụ thể, tại buổi họp gặp gỡ NĐT gần đây, ban lãnh đạo đã chia sẻ chi tiết về KQKD sơ bộ quý 1/2026, các yếu tố hỗ trợ từ diễn biến thị trường urê toàn cầu (nguồn cung từ Trung Quốc/Nga), không có rủi ro liên quan đến nguồn cung khí và trần giá trong nước, cùng với chiến lược mở rộng dài hạn đến năm 2030. Vui lòng xem chi tiết trong Báo cáo Gặp gỡ NĐT gần đây của VCSC.
VCSC nhận thấy không có thay đổi đáng kể đối với dự báo LNST sau lợi ích CĐTS năm 2026 của VCSC (3 nghìn tỷ đồng, +55% YoY), do sản lượng bán và giá bán urê trung bình phù hợp với dự báo của VCSC, dù vẫn cần thêm đánh giá chi tiết. VCSC hiện có khuyến nghị MUA đối với DCM (giá mục tiêu 57.600 đồng/cổ phiếu) trong kịch bản cơ sở của VCSC.
- Kế hoạch năm 2026: 796 nghìn tấn urê (+2% so với kế hoạch năm 2025, tương đương ~97% dự báo năm 2026 của VCSC), doanh thu: 17,6 nghìn tỷ đồng (+26% so với kế hoạch năm 2025, tương đương ~92% dự báo năm 2026 của VCSC), và LNST: 1,2 nghìn tỷ đồng (+53% so với kế hoạch 2025, tương đương ~39% dự báo năm 2026 của VCSC). DCM đã hoàn thành trung bình 338% kế hoạch LNST trong 4 năm qua.
- Kế hoạch cổ tức: Đã được thông qua với mức cổ tức năm 2025 là 2.000 đồng/cổ phiếu. Mục tiêu cổ tức năm 2026 là 1.000 đồng/cổ phiếu, thấp hơn so với dự phóng 3.000 đồng/cổ phiếu của VCSC (được hỗ trợ bởi mức tăng 55% YoY dự kiến của LNST sau lợi ích CĐTS năm 2026). Điều này phù hợp với dự báo của VCSC do mức cổ tức tiền mặt thực tế của DCM trong 4 năm qua thường cao hơn trung bình 3,2 lần so với mức được phê duyệt.
Điều chỉnh tăng số liệu sơ bộ Quý 1/2026: Sản lượng bán: 256 nghìn tấn urê (+4% YoY, tương đương 32% dự báo năm 2026 của VCSC, có dư địa tăng nhẹ); 70 nghìn tấn NPK (+60% YoY, tương đương ~17% dự báo năm 2026 của VCSC); doanh thu 5,4 nghìn tỷ đồng (+58% YoY, tương đương ~28% dự báo năm 2026 của VCSC); LNTT 878 tỷ đồng (+93% YoY, tương đương ~26% dự báo năm 2026 của VCSC), cao hơn mức sơ bộ 837 tỷ đồng được chia sẻ tại buổi họp gặp gỡ NĐT gần đây.
DCM kỳ vọng tăng trưởng lợi nhuận quý 2/2026 sẽ mạnh hơn, nhờ được hỗ trợ bởi việc (1) ghi nhận giá bán trung bình cao hơn do một số lô hàng bán ở mức giá >800 USD/tấn chưa được hạch toán trong quý 1 và (2) tiếp tục được hưởng lợi từ phần hàng tồn kho giá vốn thấp
Kế hoạch tăng trưởng LNST 20% YoY năm 2026; gia nhập mảng vật tư tiêu hao ô tô từ quý 2/2026 – Báo cáo ĐHCĐ
Các nghị quyết chính tại ĐHCĐ:
- Kế hoạch năm 2026: Doanh thu 31,5 nghìn tỷ đồng (+18% YoY; 109% dự báo năm 2026 của VCSC) và LNST 660 tỷ đồng (+20% YoY; 103% dự báo năm 2026 của VCSC). Kế hoạch này không bao gồm bất kỳ khoản hoàn nhập dự phòng tiềm năng nào từ các khoản đầu tư chứng khoán. Kế hoạch tăng trưởng doanh thu theo mảng trong năm 2026 của DGW bao gồm laptop & máy tính bảng +16% YoY, điện thoại di động +2% YoY, thiết bị văn phòng +32% YoY, thiết bị gia dụng +71% YoY và hàng tiêu dùng +9% YoY. VCSC nhận thấy tiềm năng tăng nhẹ đối với dự báo doanh thu, nhưng tiềm năng thay đổi không đáng kể đối với dự báo LNST của VCSC, dù cần thêm đánh giá chi tiết.
- Cổ tức tiền mặt năm 2025: 1.000 đồng/cổ phiếu (lợi suất cổ tức 2,2%) sẽ được chi trả trong năm 2026.
- Chương trình ESOP năm tài chính 2026 cho thành viên HĐQT và nhân viên: Phát hành 2,2 triệu cổ phiếu (1% số lượng cổ phiếu đang lưu hành) với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, thời gian hạn chế chuyển nhượng một năm, dự kiến trong quý 2-quý 3/2026.
- ĐHCĐ đã thông qua việc DGW chuyển đổi sang cấu trúc công ty holding, trong đó công ty mẹ tập trung vào phân bổ vốn và giám sát, trong khi các công ty con vận hành từng mảng kinh doanh. Việc tái cấu trúc này mang tính hành chính, nhằm giải quyết các hạn chế về quy định liên quan đến các cổ đông nước ngoài hiện tại của DGW. Đồng thời, DGW dự kiến sự thay đổi này sẽ không mang đến thay đổi đáng kể đối với hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính.
Phần thảo luận:
- Kế hoạch quý 2/2026: Ban lãnh đạo đưa ra kế hoạch tăng trưởng doanh thu 29% YoY và tăng trưởng LNST 38% YoY trong quý 2/2026.
- Điện thoại di động: Về dài hạn, ban lãnh đạo kỳ vọng tăng trưởng doanh thu chủ yếu được thúc đẩy bởi giá bán trung bình, với sản lượng nhìn chung đi ngang.
- Laptop & máy tính bảng: Xu hướng tăng giá đã dẫn đến việc thiết lập lại mức giá bán trung bình của laptop (ví dụ: từ khoảng 15 triệu đồng trước đây lên khoảng 20–22 triệu đồng hiện nay). Trong quý 1/2026, doanh thu mảng laptop của DGW tăng 102% YoY do nhu cầu dồn vào quý 1 do kỳ vọng giá laptop sẽ tiếp tục tăng. Ban lãnh đạo cho rằng giá RAM và chipset sẽ tiếp tục xu hướng tăng cho đến cuối năm 2027. Mặc dù kỳ vọng doanh thu laptop sẽ hạ nhiệt trong quý 2-quý 3 so với quý 1, ban lãnh đạo vẫn tự tin vào mục tiêu tăng trưởng doanh thu laptop cả năm 2026. Về dài hạn, DGW kỳ vọng sản lượng tăng trưởng khoảng 10%/năm.
- Các mảng hiện hữu khác: DGW có kế hoạch đưa hai thương hiệu lớn vào mảng hàng tiêu dùng nhanh (FMCG) và thiết bị gia dụng trong năm 2026.
- Mảng kinh doanh liên quan đến ô tô: Ban lãnh đạo cho rằng thời điểm này là còn sớm để gia nhập mảng phân phối xe điện (EV) do (1) người tiêu dùng chưa sẵn sàng cho các dòng xe điện cao cấp của Trung Quốc (giá bán trung bình trên 2 tỷ đồng) và (2) cơ sở hạ tầng trạm sạc của bên thứ ba (ngoài hệ sinh thái VinFast) chưa phát triển. Thay vào đó, trọng tâm ngắn hạn của DGW là vật tư tiêu hao ô tô (ví dụ: dầu nhớt, lốp xe, ắc quy, phụ kiện), với kế hoạch gia nhập mảng phân phối dầu nhớt trong quý 2/2026, thiết lập nền tảng cho việc mở rộng tiềm năng sang các loại vật tư tiêu hao ô tô liên quan.
- Tác động của xung đột tại Trung Đông: Nhìn chung, ban lãnh đạo cho rằng xung đột tại Trung Đông sẽ không có tác động đáng kể đến lợi nhuận của DGW. Ban lãnh đạo kỳ vọng không xảy ra gián đoạn trực tiếp đến chuỗi cung ứng do nguồn cung tập trung tại Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. Ngoài ra, rủi ro liên quan đến chi phí logistics của DGW được giảm thiểu nhờ các hợp đồng có kỳ hạn với cơ chế giới hạn mức tăng giá. Chi phí vận chuyển chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng chi phí hoạt động. Ban lãnh đạo tin rằng mức tăng 20%-30% chi phí vận chuyển hàng hóa khó có thể tác động mạnh đến lợi nhuận. Mặc dù các rủi ro gián tiếp đối với nhu cầu tiêu dùng gây ra bởi lạm phát toàn cầu vẫn tồn tại, ban lãnh đạo tin rằng việc giành thêm thị phần, bổ sung các thương hiệu mới và các mảng kinh doanh mới sẽ bù đắp cho rủi ro suy giảm sức mua
Kế hoạch năm 2026 thận trọng trong bối cảnh chi phí thức ăn chăn nuôi đầu vào gia tăng do căng thẳng Trung Đông; cổ tức tiền mặt cao – Báo cáo ĐHCĐ
Kế hoạch năm 2026:
- Doanh thu: 7.200 tỷ đồng (giảm 13,5% YoY; đạt 82% dự báo năm 2026 của VCSC).
- 1.005 tỷ đồng (giảm 37,2% YoY; đạt 80% dự báo năm 2026 của VCSC).
- Biên LNST dự phóng: 14% (so với 19,2% năm 2025 và mức 14,5% trong dự báo năm 2026 của VCSC).
- Kế hoạch thận trọng này phản ánh kỳ vọng của ban lãnh đạo về tình trạng lạm phát chi phí đầu vào do xung đột tại Trung Đông, đặc biệt là chi phí liên quan đến thức ăn chăn nuôi. Mặc dù giá bán có thể tăng, ban lãnh đạo không kỳ vọng việc điều chỉnh giá đầu ra sẽ đủ để bù đắp hoàn toàn chi phí đầu vào tăng cao.
- Cơ cấu biên lợi nhuận gộp kế hoạch năm 2026 (so với thực tế năm 2025): - Biên lợi nhuận gộp tổng hợp: 20-21% (so với 26,3% năm 2025).
- Heo: khoảng 29,0% (so với 35,4%).
- Bò: 6,6% (so với 7,1%).
- Gia cầm: 4,1% (so với 16,6%).
- Thức ăn chăn nuôi: 14,9% (so với 17,0%).
KQKD sơ bộ quý 1/2026:
- Doanh thu: 1.813 tỷ đồng (-5% QoQ; đạt 21% dự báo năm 2026). Không có dữ liệu so sánh YoY do công ty không công bố KQKD quý 1/2025 vào năm ngoái (trước thời điểm IPO).
- LNST: 345 tỷ đồng (tăng 14% QoQ; đạt 27% dự báo năm 2026 của VCSC).
- Mặc dù KQKD quý 1 khá tích cực, ban lãnh đạo dự kiến quý 2 và quý 3 sẽ kém tích cực hơn. Đối với kỳ vọng quý 2, chi phí nguyên liệu thức ăn chăn nuôi tăng mạnh do xung đột từ đầu tháng 3 sẽ bắt đầu phản ánh vào báo cáo KQKD trong quý 2, trong khi quý 1 vẫn được hỗ trợ bởi hàng tồn kho giá thấp. Dù giá đầu ra có thể tăng, công ty không kỳ vọng mức tăng này có thể bù đắp được chi phí đầu vào.
- Ban lãnh đạo cũng cho rằng lợi nhuận quý 3 sẽ thấp do tính mùa vụ trong năm.
- Về tính thời vụ trong năm, ban lãnh đạo lưu ý quý 1 và quý 4 thường là các quý cao điểm nhờ giá lợn tốt, trong khi quý 2 và quý 3 thường thấp hơn
Mục tiêu LNST năm 2026 tăng 42% YoY; LNST sơ bộ quý 1 ghi nhận mức tăng mạnh 170% YoY nhờ mức lợi nhuận cốt lõi cao và khoản lãi một lần - Báo cáo ĐHCĐQ
Kế hoạch năm 2026:
CTCP Tập đoàn Hòa Phát (HPG) đã công bố kế hoạch kinh doanh hợp nhất năm 2026:
- Doanh thu: 210 nghìn tỷ đồng (+35% YoY; 113% dự báo năm 2026 của VCSC). * LNST: 22 nghìn tỷ đồng (+42% YoY; 101% dự báo năm 2026 của VCSC).
- Biên LNST tương ứng: 10,5% (so với mức 9,9% ghi nhận trong năm 2025 và dự báo năm 2026 của VCSC là 11,7%).
2. KQKD sơ bộ quý 1/2026:
- Doanh thu: 53.300 tỷ đồng (+15% QoQ, +42% YoY; 27% dự báo năm 2026 của VCSC).
- LNST: 9.056 tỷ đồng (+133% QoQ, +170% YoY; tương đương 41% dự báo năm 2026 của VCSC). Theo Chủ tịch HĐQT, khoảng 5.200 tỷ đồng trong số này đến từ hoạt động kinh doanh cốt lõi đang diễn ra, trong khi khoảng 3.800 tỷ đồng còn lại là khoản lãi một lần từ việc chuyển nhượng phần vốn góp của HPG tại dự án khu đô thị Phố Nối Hưng Yên.
- Ban lãnh đạo kỳ vọng quý 2 và quý 3 sẽ tích cực hơn quý 1. Theo quan điểm của VCSC, nhận định này nhiều khả năng đang đề cập đến lợi nhuận cốt lõi, được hỗ trợ chủ yếu bởi nhu cầu thép thúc đẩy bởi hoạt động đầu tư hạ tầng tăng mạnh từ cả khu vực công và khu vực tư nhân.
- Đáng chú ý, lợi nhuận cốt lõi trong quý 1 vẫn vượt kỳ vọng của VCSC. Do đó, VCSC nhận thấy khả năng điều chỉnh tăng đối với dự báo năm 2026 hiện tại của VCSC, nhờ mức lợi nhuận cốt lõi tốt hơn kỳ vọng trong quý 1, kết hợp với khoản lãi một lần từ mảng BĐS, mà chúng tôi hiện vẫn chưa đưa vào dự báo
Kế hoạch LNST tăng 36% YoY, được thúc đẩy bởi nhu cầu đất KCN bền vững - Báo cáo ĐHCĐ
- VCSC đã tham dự ĐHCĐ của Tổng Công ty Phát triển Đô thị Kinh Bắc (KBC) vào ngày 18/04/2026
- Cổ đông đã thông qua kế hoạch kinh doanh năm 2026 với mục tiêu tổng thu nhập đạt 10,0 nghìn tỷ đồng (bao gồm doanh thu, doanh thu tài chính, lợi nhuận từ các công ty liên kết và các nguồn doanh thu khác), tăng 27% YoY, và LNST đạt 3,0 nghìn tỷ đồng, tăng 36% YoY — tương đương lần lượt với khoảng 90% và 96% dự báo của VCSC.
- Kế hoạch tăng trưởng lợi nhuận năm 2026 chủ yếu được thúc đẩy bởi khoảng 250 ha bàn giao đất KCN theo kế hoạch, với kỳ vọng đóng góp chính từ dự án KCN Quế Võ 2 mở rộng, Tràng Duệ 3 và Nam Sơn Hạp Lĩnh, cùng với tiềm năng điều chỉnh tăng từ dự án KĐT Tràng Cát
- VCSC nhận thấy rủi ro điều chỉnh giảm dự báo lợi nhuận năm 2026 (dù cần thêm đánh giá chi tiết), chủ yếu liên quan đến thời điểm ghi nhận đóng góp từ dự án Tràng Cát. VCSC lưu ý LNST của KBC trong giai đoạn 2021–2025 lần lượt đạt 68%/35%/56%/11%/69% so với kế hoạch năm
- Cổ đông đã thông qua cổ tức tiền mặt năm 2026 là 2.000 đồng/cổ phiếu (lợi suất 5,7%), với các đợt tạm ứng (một hoặc nhiều lần) sẽ do HĐQT quyết định dựa trên KQKD thực tế. Công ty không chi trả cổ tức cho năm 2025. Trong dự báo hiện tại, VCSC giả định không có cổ tức tiền mặt cho cả hai năm
Tái khẳng định mục tiêu tăng trưởng cho năm 2026; đẩy mạnh mở rộng bảng cân đối kế toán trong khi duy trì ROE dẫn đầu - Báo cáo ĐHCĐ
- VCSC đã tham dự ĐHCĐ của Ngân hàng TMCP Quân đội (MBB) vào ngày 18/4. Chương trình nghị sự chính của cuộc họp là trình bày kế hoạch kinh doanh năm 2026, kế hoạch tăng vốn, phân phối cổ tức và các ưu tiên chiến lược. Mặc dù ban lãnh đạo tỏ ra thận trọng hơn về bối cảnh vĩ mô, bao gồm áp lực huy động vốn mang tính cấu trúc và biến động quốc tế từ xung đột tại Trung Đông, VCSC nhận thấy sự tự tin trong việc thực hiện các mục tiêu ĐHCĐ vẫn được duy trì. VCSC xem đây là thông điệp thận trọng trong bối cảnh môi trường còn nhiều bất định. Theo quan sát của VCSC, kế hoạch chính thức của MBB thường khá thận trọng so với tiềm năng tăng trưởng của ngân hàng, với việc ngân hàng chỉ mới một lần không đạt mục tiêu ĐHCĐ trong thập kỷ qua, với mức chênh không đáng kể. ĐHCĐ cũng củng cố tham vọng của ban lãnh đạo trong việc duy trì tăng trưởng mạnh mẽ trong ba năm tới, tập trung hơn vào hệ sinh thái tài chính với sự kiểm soát rủi ro chặt chẽ, và củng cố vị thế dẫn đầu trong hệ thống ngân hàng
- Kế hoạch năm 2026 bao gồm tăng trưởng tín dụng khoảng 30% YoY (tăng trưởng cuối cùng phụ thuộc vào sự phê duyệt của NHNN), tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức ≤1,5% (hợp nhất) và dưới 1% tại ngân hàng mẹ, và LNTT đạt 39,4 nghìn tỷ đồng (+15% YoY) so với dự báo 41,2 nghìn tỷ đồng (+20% YoY) của VCSC. Ngoài ra, CIR sẽ được kiểm soát dưới 28%, ROE ở mức 20–21% và ROA khoảng 2%. MBB đặt mục tiêu tổng tài sản đạt gần 2 triệu tỷ đồng vào cuối năm 2026 (+28% YoY). Mặc dù vậy, ban lãnh đạo MBB cho biết họ sẽ phấn đấu đạt mức tăng trưởng LNTT 20% trong năm 2026
- MBB đề xuất (1) chi trả cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 15% vốn điều lệ và (2) chi trả cổ tức bằng tiền mặt tỷ lệ 10% vốn điều lệ, sử dụng lợi nhuận giữ lại năm 2025, để thực hiện trong năm 2026
- MBB đề xuất hai phương án tăng vốn: (1) chào bán quyền mua cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với 805,5 triệu cổ phiếu ở mức giá 10.000 đồng/cổ phiếu (tỷ lệ thực hiện quyền 10:1; sẽ thực hiện trong năm 2026, cùng thời điểm hoặc sau khi chia cổ tức bằng cổ phiếu), và (2) chào bán riêng lẻ tối đa 200 triệu cổ phiếu (2,5% số cổ phiếu đang lưu hành), bao gồm 62 triệu cổ phiếu đã được thông qua tại ĐHCĐ năm 2025 (cho Viettel và các nhà đầu tư chuyên nghiệp) và 138 triệu cổ phiếu bổ sung. Đối tượng nhà đầu tư mục tiêu cho đợt chào bán này là các đối tác chiến lược trong nước có sự cộng hưởng hệ sinh thái và năng lực tài chính mạnh. Giá chào bán không thấp hơn giá trị sổ sách của MBB theo báo cáo tài chính gần nhất trước khi Hội đồng quản trị phê duyệt. MBB giải thích rằng việc thực hiện song song chi trả cổ tức bằng tiền mặt và phát hành quyền mua nhằm mang lại cho cổ đông sự linh hoạt hơn trong việc đáp ứng nhu cầu tiền mặt, đồng thời không tạo ra sự khác biệt về thuế có thể ảnh hưởng đến quyền lợi cổ đông
- Cổ phiếu MBB hiện vẫn kín room ngoại. Ban lãnh đạo cố gắng duy trì tình trạng này để giữ chỗ cho một nhà đầu tư nước ngoài chiến lược nếu có trong tương lai, phần vốn này có thể được chào bán ở mức giá cao hơn đáng kể so với thị trường.
Đà phục hồi được hỗ trợ bởi giá bán tăng và hàng tồn kho giá thấp; triển vọng ngắn hạn vẫn thận trọng - Báo cáo ĐHCĐ
1. Kế hoạch năm 2026: thấp hơn kỳ vọng, hàm ý rủi ro giảm đối với dự báo
- STK đặt kế hoạch doanh thu năm 2026 đạt 2,4 nghìn tỷ đồng (+75% YoY; 91% dự báo cả năm của VCSC) và LNTT đạt 128,5 tỷ đồng (+38% YoY; 75% dự báo cả năm của VCSC); kế hoạch này nhìn chung thấp hơn so với kỳ vọng của VCSC
- Quan điểm của ban lãnh đạo đã chuyển sang hướng gia tăng công suất một cách thận trọng hơn, ưu tiên quản lý hiệu quả hàng tồn kho trong bối cảnh giá nguyên liệu đầu vào tăng, qua đó làm giảm mức độ cấp thiết của việc đẩy mạnh sản lượng. Bên cạnh đó, STK cho biết công ty sẽ hưởng lợi từ hàng tồn kho giá thấp trong khi giá bán đang tăng, qua đó hỗ trợ biên lợi nhuận từ quý 2/2026. VCSC lưu ý rằng STK có 333 ngày tồn kho tại thời điểm cuối năm 2025 (so với mức trung bình 133 ngày trong giai đoạn 2020-2024), qua đó cho thấy công ty có lượng tồn kho giá thấp đủ lớn, có thể sử dụng trong phần lớn năm 2026.
- Trong khi đó, lượng tồn kho giá thấp này được kỳ vọng sẽ hỗ trợ biên lợi nhuận và có thể kéo dài trong phần lớn năm 2026, với tác động tích cực nhiều khả năng sẽ rõ nét hơn từ quý 2 trở đi khi giá bán tăng, nhờ mặt bằng chi phí thị trường cao hơn
- Quan điểm của VCSC: Dựa trên KQKD thực tế năm 2025 thấp hơn kỳ vọng (LNST sau lợi ích CĐTS chỉ đạt 58% dự báo cả năm của VCSC) và kế hoạch năm 2026 mang tính thận trọng, VCSC nhận thấy rủi ro điều chỉnh giảm đối với dự báo hiện tại, và hiện đang đánh giá lại khuyến nghị.
2. KQKD quý 1 yếu và kỳ vọng cải thiện trong quý 2; mức độ hiện hữu của đơn hàng vẫn hạn chế
- Công ty hiện chưa công bố KQKD sơ bộ quý 1/2026
- Sản lượng: Doanh số bán trong quý 1 được ước tính đạt 5 nghìn tấn (-30% YoY; -20% QoQ), phản ánh nhu cầu vẫn còn yếu và ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ trong dịp Tết. Sản lượng quý 2 được kỳ vọng phục hồi lên mức 7 nghìn tấn (+10% YoY; +40% QoQ), trong đó khoảng 3 nghìn tấn đã được đặt hàng. Tuy nhiên, tiến độ giao hàng đang chậm lại, khi khách hàng đã đặt hàng nhưng trì hoãn nhận hàng trong bối cảnh điều kiện thị trường vẫn còn nhiều bất định
- Giá bán và chi phí: Trong tháng 4, giá bán trung bình tăng 7% so với mức bình quân của quý 1, được hỗ trợ bởi diễn biến chi phí đầu vào do xung đột tại Trung Đông, đồng thời công ty tiếp tục hưởng lợi từ hàng tồn kho giá thấp. STK có kế hoạch giảm hàng tồn kho ở mức 300-400 tỷ đồng vào cuối năm 2026 (tương đương khoảng 50% lượng tồn kho cuối năm 2025), qua đó vốn lưu động và dòng tiền được cải thiện
- Cơ cấu sản phẩm: Ban lãnh đạo đặt mục tiêu tỷ trọng sợi tái chế ở mức khoảng 60%-70% trong năm 2026, nhưng cơ cấu sản phẩm thực tế sẽ được điều chỉnh linh hoạt tùy theo điều kiện thị trường. Hiện tại, nhu cầu đối với sợi nguyên sinh đang tốt hơn, do mức tăng đối với chi phí đầu vào của sợi tái chế (liên quan đến biến động giá dầu) đã làm suy giảm lợi thế về giá của sản phẩm tái chế.
3. Unitex: đang tiếp tục tăng công suất; kế hoạch mở rộng bị lùi lại
- Giai đoạn 1 của Unitex được kỳ vọng sẽ vận hành ở mức 60%-70% công suất trong năm 2026, với dư địa tăng thêm phụ thuộc vào tốc độ phục hồi của nhu cầu
- Giai đoạn 2 đã sẵn sàng về mặt kỹ thuật nhưng đã được hoãn lại, khi ban lãnh đạo ưu tiên ổn định hoạt động và nhu cầu tiêu dùng cải thiện. Ở thời điểm hiện tại, việc mở rộng Giai đoạn 2 nhiều dự kiến không sớm hơn năm 2028, qua đó củng cố quan điểm của VCSC rằng tốc độ tăng công suất sẽ chậm hơn so với kỳ vọng trước đây.
4. Kế hoạch phân phối lợi nhuận
- STK có kế hoạch chi trả cổ tức cổ phiếu tỷ lệ 10% cho năm 2025. Sau khi thực hiện cổ tức cổ phiếu, vốn điều lệ của STK sẽ tăng 10% lên 1,5 nghìn tỷ đồng từ mức hiện tại là 1,4 nghìn tỷ đồng.
DGW công bố chi trả cổ tức tiền mặt năm tài chính 2025 ở mức 1.000 đồng/cổ phiếu (lợi suất cổ tức 2,2%)
- CTCP Thế Giới Số (DGW) đã công bố kế hoạch chi trả cổ tức tiền mặt năm tài chính 2025 ở mức 1.000 đồng/cổ phiếu, với ngày giao dịch không hưởng quyền là 13/05/2026 và ngày thanh toán là 21/05/26.
- VCSC hiện đưa ra mức giá mục tiêu cho DGW là 45.400 đồng/cổ phiếu.
LNST sau lợi ích CĐTS sơ bộ quý 1/2026 tăng 14% YoY - nhìn chung phù hợp với dự báo
1. Kết quả sơ bộ quý 1/2026: Doanh thu đạt 12,5 nghìn tỷ đồng (+9% YoY; 22% dự báo cả năm của VCSC) và LNST sau lợi ích CĐTS đạt 2,5 nghìn tỷ đồng (+14% YoY; 24% dự báo cả năm của VCSC).
2. KQKD của từng mảng trong quý 1/2026:
CNTT nước ngoài: Doanh thu +10% YoY; LNTT +5% YoY
- Theo loại hình dịch vụ, tăng trưởng chủ yếu được thúc đẩy bởi các dịch vụ chuyển đổi số (DX), tăng 18% YoY và đóng góp 47% tổng doanh thu CNTT nước ngoài trong quý 1/2026
- Theo thị trường, thị trường Nhật Bản tiếp tục là thị trường có đóng góp doanh thu lớn nhất, ghi nhận mức tăng trưởng doanh thu 19% YoY trong quý 1/2026. Thị trường EU ghi nhận mức tăng trưởng doanh thu mạnh ở mức 44% YoY. Doanh thu tại Mỹ tăng nhẹ 4% YoY. Trong khi đó, doanh thu tại APAC giảm 10% YoY, chủ yếu do diễn biến kém tích cực tại thị trường Hàn Quốc và Malaysia
- Doanh thu ký mới tăng 22% YoY lên 13,8 nghìn tỷ đồng trong quý 1/2026. Số lượng các hợp đồng có giá trị từ 500.000 USD đến dưới 1 triệu USD tăng 14% YoY lên 95 hợp đồng, số lượng hợp đồng có giá trị từ 1 triệu USD đến dưới 10 triệu USD tăng 16% YoY lên 85 hợp đồng, và hợp đồng có giá trị từ 10 triệu USD trở lên tăng 14% YoY lên 8 hợp đồng
- Biên LNTT mảng CNTT nước ngoài giảm 80 điểm cơ bản YoY xuống 16,2% trong quý 1/2026, do dự án AI Factory tại Nhật Bản ghi nhận lỗ gây áp lực lên biên lợi nhuận, trong khi không có tác động này trong quý 1/2025. Trong khi đó, biên LNTT cốt lõi của mảng dịch vụ CNTT nước ngoài (không bao gồm dự án AI Factory tại Nhật Bản) nhìn chung đi ngang YoY trong quý 1/2026.
CNTT trong nước: Doanh thu +14% YoY; LNTT +305% YoY từ mức nền thấp
- Doanh thu từ hệ sinh thái sản phẩm Made-by-FPT tăng 14% YoY, được thúc đẩy bởi cả khu vực tư nhân và khu vực nhà nước.
Giáo dục, đầu tư và các mảng khác: Doanh thu giảm 4% YoY trong quý 1/2026, phản ánh tác động trễ từ việc tổng số người học giảm 8% tại cuối năm 2025 so với cuối năm 2024 (do số lượng tuyển sinh mới đi ngang và công ty ghi nhận số lượng lớn người học tốt nghiệp/bỏ học trong năm 2025). Trong khi đó, LNTT đã ghi nhận mức tăng 24% YoY, nhờ được hỗ trợ bởi mức tăng trưởng lợi nhuận hai chữ số từ các công ty liên kết.
3. Quan điểm của VCSC:
- Kết quả sơ bộ quý 1/2026 nhìn chung phù hợp dự báo năm 2026 hiện tại của VCSC, do đó VCSC nhận thấy không có thay đổi đáng kể đối với dự báo, dù cần thêm đánh giá chi tiết.
- VCSC hiện đưa ra mức giá mục tiêu cho FPT là 116.600 đồng/cổ phiếu.
Kế hoạch năm 2026 dự kiến LNST sẽ tăng 4% YoY dù doanh thu tăng nhanh hơn ở mức 11%; qua đó làm nổi bật các động lực tăng trưởng chiến lược ngoài viễn thông trong giai đoạn 2026-2030 - Báo cáo ĐHCĐ
VCSC đã tham dự ĐHCĐ năm 2026 của Tổng Công ty cổ phần Công trình Viettel (CTR) tại Hà Nội vào ngày 22/04/2026
- ĐHCĐ đã thông qua kế hoạch kinh doanh năm 2026 bao gồm doanh thu hợp nhất: 15,7 nghìn tỷ đồng (+11% YoY; 101% dự báo của VCSC) và LNST: 622 tỷ đồng (+4% YoY; 89% dự báo của VCSC), nhìn chung không thay đổi so với các tài liệu được công bố trước ĐHCĐ của công ty. Trong quá khứ, KQKD của CTR thường vượt nhẹ kế hoạch do công ty đề ra, với LNST sau lợi ích CĐTS thực tế trong giai đoạn 2018-2025 thường cao hơn trung bình 6% so với kế hoạch
- Chênh lệch giữa tăng trưởng doanh thu và tăng trưởng lợi nhuận cho thấy những thay đổi chiến lược mang tính cơ cấu trong giai đoạn 2026-2030, điều mà ban lãnh đạo đã liên hệ trực tiếp với việc mở rộng thị phần ở các mảng ngoài viễn thông, bao gồm xây dựng, giải pháp tích hợp và dịch vụ kỹ thuật, cũng như đầu tư hạ tầng. Điều này có thể gây áp lực lên tăng trưởng biên lợi nhuận ròng, cùng với chính sách trích lập dự phòng thận trọng trong bối cảnh biến động hiện tại của chi phí đầu vào
- Cổ đông đã thông qua kế hoạch chia cổ tức cho năm 2025, bao gồm: (1) cổ tức tiền mặt 171,6 tỷ đồng (1.500 đồng/cổ phiếu; lợi suất cổ tức tiền mặt 1,7%) và (2) cổ tức cổ phiếu 12% (tỷ lệ 100:12), được phát hành từ lợi nhuận giữ lại và dự kiến sẽ phân phối trong năm 2026.
1. Kế hoạch năm 2030:
- CTR đặt mục tiêu đạt mức doanh thu 28,8 nghìn tỷ đồng và LNTT ở mức 1,3 nghìn tỷ đồng vào năm 2030, tương ứng với mức tốc độ tăng trưởng kép (CAGR) lần lượt là 16%/12% trong giai đoạn 2026-2030, nhờ được thúc đẩy bởi các mảng xây dựng, giải pháp tích hợp và dịch vụ kỹ thuật, và đầu tư hạ tầng (tăng trưởng 20%-30%/năm), trong khi trăng trưởng mảng vận hành khai thác được kỳ vọng sẽ duy trì ổn định ở mức 3%-5%/năm
- Ban lãnh đạo cũng nhấn mạnh tỷ trọng đóng góp ngày càng cao từ khách hàng ngoài Viettel trong thời gian tới, dự kiến tăng từ 49% (tính đến quý 1/2026) lên 70% vào năm 2030. VCSC cho rằng điều này phản ánh tốc độ tăng trưởng chậm hơn ở các mảng vận hành khai thác và hạ tầng cho thuê viễn thông (towerco), đồng thời cho thấy sự thay đổi dần trong cơ cấu doanh thu sẽ đến từ các mảng ít phụ thuộc vào Viettel hơn như xây dựng và giải pháp tích hợp & dịch vụ kỹ thuật.
2. Cho thuê hạ tầng viễn thông (Towerco) & Vận hành khai thác:
- Vận hành khai thác: Ban lãnh đạo nhấn mạnh rằng giá trị dài hạn của 5G không chỉ nằm ở việc cải thiện tốc độ, mà tập trung nhiều hơn vào độ trễ thấp và độ ổn định mạng cho các ứng dụng doanh nghiệp và ứng dụng chuyên biệt. Theo đó, tăng trưởng hạ tầng viễn thông của CTR được kỳ vọng sẽ được thúc đẩy không chỉ bởi việc mở rộng trạm phát sóng thụ động, mà còn bởi nhu cầu hạ tầng số doanh nghiệp ngày càng phát triển, qua đó hỗ trợ tăng trưởng ổn định và dài hạn cho mảng vận hành khai thác
- Towerco: Ban lãnh đạo cho biết công ty dự kiến sẽ xây mới 1.000 trạm trong năm 2026, đồng thời đặt mục tiêu xây dựng tối thiểu 500 trạm BTS 5G mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030, với khả năng tăng thêm nếu các nhà mạng đẩy nhanh triển khai mạng 5G. Ban lãnh đạo cũng nhấn mạnh rằng việc triển khai 5G trên diện rộng sẽ phụ thuộc không chỉ vào mục tiêu phủ sóng của các nhà khai thác mạng di động (MNOs), mà còn vào khả năng thương mại hóa các dịch vụ xung quanh mạng 5G không chỉ dịch vụ dữ liệu di động thông thường (điều này phần lớn nằm ngoài tầm kiểm soát của CTR), qua đó phản ánh quan điểm thận trọng của CTR đối với đà tăng trưởng của tỷ lệ dùng chung.
3. Mảng xây xựng:
- Trong mảng xây dựng B2B, CTR đặt mục tiêu mở rộng vượt ra ngoài các công trình dân dụng tư nhân truyền thống để tham gia vào các dự án EPC quy mô lớn hơn, các dự án đầu tư công và hạ tầng chiến lược, bao gồm giao thông, KCN và các dự án liên quan tới FDI. Ban lãnh đạo cũng đề cập các dự án trọng điểm quốc gia (ví dụ: đường sắt cao tốc) là cơ hội tiềm năng trong trung hạn
- Đối với mảng xây dựng B2C, ban lãnh đạo tiếp tục phát triển mô hình nhà ở tích hợp, với 1.720 căn hoàn thành trong năm 2025 và mục tiêu hơn 3.000 căn trong năm 2026. Ban lãnh đạo cũng hướng tới mở rộng thêm các sản phẩm/dịch vụ gắn với giải pháp tích hợp và dịch vụ kỹ thuật, bao gồm M&E, giải pháp điện mặt trời, các giải pháp liên quan đến viễn thông và các dịch vụ hộ gia đình khác (nội thất, v.v.)
- Đối với dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam, ban lãnh đạo không định vị CTR là nhà thầu EPC duy nhất. Thay vào đó, công ty kỳ vọng sẽ tham gia vào các liên danh khi phù hợp, cung cấp/thi công các hạng mục phù hợp với năng lực của công ty, đồng thời hướng tới các cơ hội cho hoạt động vận hành & bảo trì (O&M) trong dài hạn.
4. Giải pháp tích hợp và dịch vụ kỹ thuật:
- CTR kỳ vọng công ty sẽ ghi nhận mức tăng trưởng mạnh ở mảng giải pháp điện mặt trời hộ gia đình, dù ban lãnh đạo thừa nhận biên lợi nhuận đang chịu áp lực từ mức chi phí đầu vào cao hơn
- Ban lãnh đạo cho biết CTR đã đạt hơn 50% thị phần trong thị trường điện mặt trời hộ gia đình trong năm 2025, qua đó hỗ trợ mục tiêu đạt 70% thị phần trong mảng giải pháp năng lượng tái tạo vào năm 2030. Ban lãnh đạo cũng đề cập đến sự cạnh tranh từ các nhà cung cấp Trung Quốc có giá thấp hơn, nhưng nhấn mạnh lợi thế của CTR về quy mô mua hàng, chất lượng lắp đặt, năng lực thiết kế giải pháp trọn gói và năng lực O&M trên phạm vi toàn quốc.
5. Đầu tư hạ tầng:
- Ban lãnh đạo đề cập đến một dự án điện gió tại Quảng Bình, thuộc dự án Lệ Thủy 4, với quy mô ban đầu 50 MW và tiềm năng mở rộng dài hạn lên 200-250 MW. Tuy nhiên, dự án hiện đang gặp một số khó khăn trong quá trình phê duyệt do trước đây đã được cấp cho một nhà đầu tư khác, và hiện kế hoạch của CTR vẫn cần phải được phê duyệt lại, điều này có thể ảnh hưởng đến tiến độ dự án
- Nhà ở xã hội là một sáng kiến đầu tư hạ tầng đáng chú ý khác. Ban lãnh đạo hiện đặt mục tiêu 50.000 căn vào năm 2030 (tương đương khoảng 5% Chương trình quốc gia - xây dựng 1 triệu căn nhà ở xã hội đến năm 2030) dưới thương hiệu Viettel Home. CTR cũng nhấn mạnh vị thế cạnh tranh mạnh của mình trong thị trường còn khá phân mảnh này, nhờ được hỗ trợ bởi hệ sinh thái Viettel giúp thủ tục pháp lý thuận lợi hơn, cùng năng lực O&M và triển khai mạnh mẽ.
- Ngoài ra, cũng có phần thảo luận về dự án cáp quang Bắc -Nam. Ban lãnh đạo xác nhận dự án đã bị gián đoạn do thay đổi trong quy hoạch và yêu cầu về nhu cầu từ phía chủ đầu tư dự án. Yếu tố này là rủi ro điều chỉnh giảm đối với định giá của VCSC, có thể làm giảm gần 1% giá mục tiêu nếu VCSC loại trừ dự án này khỏi các giả định, dù vẫn cần thêm đánh giá chi tiết.
Triển vọng urê tích cực trong năm 2026, nền tảng lợi nhuận quý 2 vững chắc - Báo cáo ĐHCĐ
- Tại ĐHCĐ năm 2026 của Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (DPM), ban lãnh đạo đã nhấn mạnh triển vọng tích cực của thị trường urê trong năm 2026, nền tảng lợi nhuận quý 2 vững chắc, cơ hội xuất khẩu gia tăng và nguồn cung khí đầu vào được đảm bảo. VCSC nhận thấy khả năng điều chỉnh năng tăng nhẹ đối với dự báo LNST sau lợi ích CĐTS năm 2026 hiện tại của VCSC (1,8 nghìn tỷ đồng, +70% YoY), do mức giá bán urê trung bình mạnh hơn kỳ vọng có thể bù đắp cho mức giá khí đầu vào cao hơn dự kiến, dù vẫn cần thêm đánh giá chi tiết. VCSC hiện có khuyến nghị PHÙ HỢP THỊ TRƯỜNG đối với DPM (giá mục tiêu 31.200 đồng/cổ phiếu) trong kịch bản cơ sở.
- Cổ tức: ĐHCĐ đã thông qua kếhoạch chi trả cổtức tiền mặt năm 2025 ở mức 1.500 đồng/cổphiếu, cao hơn so với mức được thông qua tại ĐHCĐ 2025 và cao hơn dự phóng 1.200 đồng/cổ phiếu của VCSC. Công ty đặt mục tiêu cổ tức năm 2026 là 1.200 đồng/cổ phiếu, thấp hơn so với dự phóng 1.400 đồng/cổ phiếu của VCSC, và VCSC cho rằng không có rủi ro đáng kể đối với giả định này.
KQKD sơ bộ quý 1:
+ Doanh thu: 5,7 nghìn tỷ đồng (+38% YoY, tương đương khoảng 29% dự báo năm 2026 của VCSC); LNTT: 515 tỷ đồng (gấp 2 lần YoY, tương đương khoảng 23% dự báo năm 2026)
+ Sản lượng bán: 239 nghìn tấn urê (đi ngang YoY); 59 nghìn tấn NPK (+58% YoY)
+ Giá khí đầu vào ở mức 11 USD/triệu BTU (+3% YoY); giá bán trung bình urê +7% YoY do các hợp đồng giá cao sẽ được ghi nhận trong quý 2
- Triển vọng quý 2 tích cực hơn: Ban lãnh đạo đặt mục tiêu sản lượng bán urê quý 2 đạt 260 nghìn tấn (-1% YoY), trong đó xuất khẩu chiếm 38% tổng sản lượng bán urê, tăng mạnh so với mức 21% trong quý 1. Kết hợp với giá bán urê trung bình quý 2 dự kiến ở mức 700-900 USD/tấn, điều này cho thấy triển vọng lợi nhuận quý 2 rất khả quan.
- Kế hoạch năm 2026: Doanh thu: 17,6 nghìn tỷ đồng (+37% so với kế hoạch năm 2025, tương đương khoảng 89% dự báo năm 2026 của VCSC); LNST: 680 tỷ đồng (gấp 2,1 lần so với kế hoạch năm 2025, tương đương khoảng 37% dự báo năm 2026 của VCSC). Mức kế hoạch này nhìn chung phù hợp với dự báo của VCSC, do DPM đã hoàn thành 264% kế hoạch LNST trong 4 năm gần nhất.
- Triển vọng thị trường urê tiếp tục thuận lợi, với giả định của ban lãnh đạo cao hơn đáng kể so với dự báo của VCSC. Ban lãnh đạo cho biết gói thầu gần nhất của Ấn Độ có mức giá trúng thầu bình quân là 950 USD/tấn, cao hơn gần gấp đôi so với mức trước xung đột. Trong kịch bản xung đột kéo dài, DPM kỳ vọng giá bán urê trung bình năm 2026 sẽ đạt 600-650 USD/tấn, cao hơn khoảng 34% so với dự phóng 465 USD/tấn của VCSC. Điều này phù hợp với kỳ vọng của ban lãnh đạo rằng giá bán trung bình quý 2 sẽ ở mức 700-900 USD/tấn (+82% QoQ), khi các hợp đồng giá cao bắt đầu được ghi nhận vào KQKD. VCSC cũng lưu ý rằng giá xuất khẩu hiện đang cao hơn đáng kể so với giá bán trung bình trong nước.
- Cả DPM và DCM đều cho biết Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM - vốn trước đó dự kiến sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2026) đã được lùi sang năm 2027. Một phần nguyên nhân là do giá urê hiện đang ở mức cao. Cụ thể, theo DPM, chi phí nhập khẩu dựa trên phát thải có thể làm tăng chi phí phân bón nhập khẩu cập cảng tại EU lên thêm 20-120 USD/tấn.
- Ban lãnh đạo của cả DPM và DCM đều kỳ vọng mức tác động không đáng kể từ lộ trình áp thuế đối với phân bón Nga trong vài năm tới. Đây là một biện pháp thuế riêng theo xuất xứ, có hiệu lực từ ngày 01/07/2025, theo đó thuế của EU đối với phân bón Nga tăng từ 6,5% lên gần 100% vào năm 2028. Biện pháp này đã tạo ra cú sốc nguồn cung tại EU vào giữa năm 2025 và đẩy giá urê quốc tế tăng mạnh. Tuy nhiên, hiện nay, trong khi EU chuyển sang các nhà cung cấp khác với chi phí cao hơn (qua đó khiến giá urê tại khu vực này duy trì ở mức cao), thì ở các khu vực khác trên thế giới, giá urê lại chịu áp lực do Nga chuyển hướng xuất khẩu sang các thị trường khác và làm tăng nguồn cung tại các thị trường ngoài EU. Do đó, xét trên tổng thể, tác động lên giá urê quốc tế hiện chỉ mang tính trung tính/không đáng kể, thay vì tác động tích cực như kỳ vọng trước đây.
- Triển vọng doanh thu được hỗ trợ bởi xuất khẩu; rủi ro nhu cầu trong nước có vẻ vẫn trong tầm kiểm soát. Ban lãnh đạo tiếp tục kỳ vọng triển vọng tiêu thụ urê tích cực, nhờ được hỗ trợ bởi tỷ trọng xuất khẩu cao hơn, ngay cả khi nhu cầu trong nước có thể suy yếu trong nửa cuối năm 2026 do điều kiện thời tiết El Nino. Ngoài ra, DCM cho biết việc giá gạo tăng cao và hoạt động tích trữ chiến lược gần đây tại Việt Nam và trên toàn cầu, đang giúp cải thiện khả năng chi trả của nông dân, qua đó hỗ trợ nhu cầu phân bón.
- Ban lãnh đạo cho biết nguồn cung khí đã được đảm bảo, với nguồn cung bổ sung từ mỏ Sư Tử Trắng – Giai đoạn 2B dự kiến sẽ bắt đầu vận hành trong giai đoạn 2027-2028, qua đó giúp đảm bảo nguồn nguyên liệu đầu vào trong 10-12 năm tới. LNG có thể được sử dụng, nhưng ban lãnh đạo không kỳ vọng LNG sẽ chiếm tỷ trọng đáng kể.
- Ban lãnh đạo cho biết các khoản trích lập dự phòng liên quan đến VNPOLY sẽ tiếp tục kéo dài trong 20 quý, đến hết quý 3/2028, với mức chi trả hàng quý khoảng 1,3 triệu USD. Điều này cho thấy tiềm năng tăng nhẹ đối với dự báo lợi nhuận giai đoạn 2029-2030 của VCSC, vì các khoản dự phòng này sẽ kết thúc sau đó.
- Tăng trưởng kinh doanh và mở rộng dự án:
+ Dự án mở rộng NH3-NPK: Công tác của Kiểm toán Nhà nước đã hoàn tất; quyết toán cuối cùng của dự án đã được phê duyệt.
+ Nhà máy H2O2: Báo cáo nghiên cứu khả thi (FS) đã được phê duyệt; hiện đang thẩm định kế hoạch lựa chọn nhà thầu để tiến tới phê duyệt triển khai.
+ Dự án thu hồi khí thải (Ar, H2; không bao gồm N2) từ nhà máy NH3: FS đang được thẩm định để phê duyệt.
+ Bồn chứa axit H3PO4 cho nhà máy NPK: Hợp đồng EPC đã được ký vào ngày 25/12/2025; lễ khởi động dự án diễn ra vào ngày 12/01/2026; thời gian triển khai dự kiến là 240 ngày.
+ Dự án Melamine: Hội đồng quản trị đã thông qua việc tạm dừng nghiên cứu thêm để ưu tiên nguồn lực cho dự án H2O2 và các cơ hội hóa chất khác tại Nghi Sơn; tiến độ dự án đã được hoãn sang giai đoạn 2031-2035.
Kế hoạch LNST đi ngang năm 2026, dự kiến tiến trình tái cấu trúc chuyển biến mạnh mẽ trong năm nay - Báo cáo ĐHCĐ
VCSC đã tham dự ĐHCĐ của CTCP Tập đoàn Đầu tư Địa ốc No Va (NVL) vào ngày 23/04. Những điểm chính từ cuộc trao đổi của ban lãnh đạo tại ĐHCĐ:
- Các dự án tại TP.HCM và Aqua City là động lực chính cho việc bàn giao bất động sản năm 2026. Ban lãnh đạo dự kiến tổng lượng bàn giao năm 2026 là 2.651 căn (so với 952 căn đã bàn giao năm 2025), bao gồm 1.622 căn tại các dự án TP.HCM (ví dụ: Victoria Village – căn hộ và The Grand Manhattan), 835 căn tại Aqua City, 104 căn tại NovaWorld Hồ Tràm, và 90 căn tại NovaWorld Phan Thiết. Trong năm 2026, ban lãnh đạo cũng đặt mục tiêu bàn giao 4.347 giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà (sổ hồng) cho các dự án tại TP.HCM và bắt đầu cấp sổ hồng cho Aqua City từ quý 2/2026. Đối với NovaWorld Phan Thiết, việc xác định tiền sử dụng đất dự kiến hoàn tất vào quý 2/2026.
- Ban lãnh đạo kỳ vọng tiến trình tái cấu trúc chuyển biến mạnh mẽ hơn trong năm 2026, được hỗ trợ bởi 1) việc xây dựng và bàn giao các dự án đang triển khai để đẩy nhanh tiến độ thu tiền, 2) từng bước giải quyết các vướng mắc pháp lý cho các quỹ đất, 3) đa dạng hóa các nguồn vốn huy động bên cạnh tài trợ ngân hàng và dòng tiền bán trước, như là kế hoạch phát hành riêng lẻ để hỗ trợ tái cơ cấu nợ, và 4) môi trường chính sách vĩ mô hỗ trợ nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
- Tác động từ các chi phí và lãi suất tăng trong ngắn hạn được giảm thiểu một phần: Ban lãnh đạo chỉ ra một số thách thức trong ngắn hạn bao gồm lãi suất và chi phí xây dựng cao hơn so với cùng kỳ. Theo ban lãnh đạo, lãi suất cao hơn có thể ảnh hưởng đến 30–40% dư nợ hiện tại (tổng dư nợ là 65 nghìn tỷ đồng vào cuối năm 2025), trong khi phần còn lại chủ yếu có lãi suất cố định với kỳ hạn 12–36 tháng; yếu tố lãi suất cao hơn cũng đã được xem xét khi xây dựng kế hoạch lợi nhuận năm 2026. Liên quan đến biến động chi phí nguyên vật liệu, vào cuối năm 2025 và đầu năm 2026, NVL đã ký kết hợp tác chiến lược với một số nhà thầu/nhà cung cấp để giúp chốt đơn giá cho một số khối lượng thi công.
- Ông Bùi Cao Nhật Quân (con trai ông Bùi Thành Nhơn) đã được bầu giữ chức Chủ tịch HĐQT NVL nhiệm kỳ 2026–2031, thay thế ông Nhơn. VCSC kỳ vọng quá trình tái cấu trúc tại NVL sẽ tiếp tục được duy trì dưới ban lãnh đạo mới, nhờ kinh nghiệm lâu năm của ông tại NVL và sự tham gia trong giai đoạn tái cơ cấu 2023–2025. Ông Nhơn đã được bổ nhiệm làm Chủ tịch Ủy ban Chiến lược - ESG của NVL. Cổ đông thông qua các đề xuất sau:
- Kế hoạch năm 2026: Cổ đông thông qua kế hoạch của ban lãnh đạo với doanh thu thuần 22,7 nghìn tỷ đồng (gấp 3,3 lần YoY) và LNST 1,85 nghìn tỷ đồng (đi ngang so với cùng kỳ), lần lượt cao hơn 78% và 469% so với các dự báo của VCSC. VCSC cho rằng kế hoạch LNST cao hơn so với dự báo của VCSC chủ yếu do bàn giao bất động sản tích cực hơn so với ước tính. VCSC nhận thấy tiềm năng điều chỉnh tăng đối với dự báo LNST sau lợi ích CĐTS năm 2026 của VCSC là 402 tỷ đồng (-77% YoY), dù cần thêm đánh giá chi tiết.
- Tái cơ cấu trái phiếu chuyển đổi quốc tế (305 triệu USD dư nợ vào cuối năm 2025): Cổ đông đã thông qua các đề xuất sửa đổi sau:
i) Gia hạn ngày đáo hạn: gia hạn từ ngày 30/06/2027 sang ngày 16/07/2028. Đây là đề xuất gia hạn lần thứ hai cho lô trái phiếu này, sau lần gia hạn một năm đầu tiên từ ngày đáo hạn ban đầu là tháng 07/2026 sang năm 2027, đã được phê duyệt vào tháng 07/2024.
ii) Quyền chọn bán cho trái chủ: gia hạn ngày thực hiện quyền chọn bán từ ngày 31/12/2026 sang ngày 31/12/2027. Quyền mua lại của trái chủ có thể thực hiện toàn bộ hoặc một phần, giới hạn tối đa 50% vốn gốc ban đầu.
iii) Cơ chế điều chỉnh giá chuyển đổi: bốn đợt điều chỉnh tại thời điểm 6/18/30/42 tháng kể từ ngày 05/07/2024, với giá điều chỉnh tại mức 90%/85%/75%/70% giá chuyển đổi tham chiếu là 40.000 đồng/cổ phiếu. Điều này tương ứng các mức giá chuyển đổi điều chỉnh là 34.000 đồng từ ngày 05/01/2026, 30.000 đồng từ ngày 05/01/2027, và 28.000 đồng từ ngày 05/01/2028 (so với giá chuyển đổi hiện tại là 34.000 đồng/cổ phiếu).
- Khoản vay chuyển đổi: Cổ đông thông qua việc NVL tiếp tục thực hiện kế hoạch vay chuyển đổi tối đa 15 nghìn tỷ đồng đã được phê duyệt năm 2025 sang năm 2026. Theo báo cáo tài chính kiểm toán năm 2025, 2,5 nghìn tỷ đồng đã được giải ngân (lãi suất 14%/năm, kỳ hạn 3 năm, có quyền chuyển đổi thành cổ phiếu mới của NVL).
- Kế hoạch phát hành cổ phiếu: Cổ đông thông qua việc tiếp tục thực hiện hai kế hoạch phát hành cổ phiếu đã được phê duyệt năm 2025 nhưng chưa thực hiện sang năm 2026 (phát hành riêng lẻ và phát hành cổ phiếu hoán đổi trái phiếu trong nước), đồng thời sửa đổi các điều khoản phát hành riêng lẻ, cũng như thông qua các kế hoạch phát hành cổ phiếu thưởng và ESOP mới:
i) Kế hoạch phát hành riêng lẻ: Cổ đông thông qua việc phát hành tối đa 800 triệu cổ phiếu (36% số lượng cổ phiếu đang lưu hành) với giá phát hành không thấp hơn 75% bình quân giá đóng cửa 30 phiên giao dịch trước ngày HĐQT phê duyệt phương án phát hành (so với kế hoạch đã được ĐHCĐ tháng 04/2025 phê duyệt tối đa 350 triệu cổ phiếu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu).
ii) Kế hoạch phát hành cổ phiếu hoán đổi trái phiếu trong nước: không thay đổi so với kế hoạch đã được ĐHCĐ bất thường tháng 08/2025 phê duyệt, với tối đa 151,85 triệu cổ phiếu tại mức giá hoán đổi 40.000 đồng/cổ phiếu.
iii) Kế hoạch phát hành cổ phiếu thưởng: tối đa 167,6 triệu cổ phiếu (7,5% số lượng cổ phiếu đang lưu hành; tỷ lệ 40:3, nghĩa là cổ đông sở hữu 40 cổ phiếu sẽ nhận được 3 cổ phiếu mới), nguồn vốn từ thặng dư vốn cổ phần. Dự kiến thực hiện trong năm 2026 hoặc thời điểm khác theo quyết định của HĐQT.
iv) Kế hoạch ESOP: tối đa 111,7 triệu cổ phiếu (5% số lượng cổ phiếu đang lưu hành) với giá chào bán tối thiểu 10.000 đồng/cổ phiếu. Dự kiến thực hiện trong năm 2026, tùy thuộc vào sự chấp thuận của UBCKNN. Thứ tự thực hiện dự kiến ưu tiên phát hành cổ phiếu thưởng, tiếp theo là phát hành riêng lẻ, ESOP, và các kế hoạch khác. Thay đổi thành viên HĐQT: Cổ đông thông qua việc bầu ông Bùi Cao Nhật Quân, ông Phạm Tiến Vân, và ông Hoàng Đức Hùng. Việc bầu cử nhằm thay thế ba thành viên HĐQT hiện tại có nhiệm kỳ kết thúc vào năm 2026.
MBS
Tích lũy chờ ngày bứt phá
- Q1/2026 MBS ước tính lợi nhuận ròng của GAS là 3,307 tỷ đồng (+19.9% svck). Mức tăng trưởng được đánh giá đến từ việc giá bán khí tăng mạnh trong quý đầu năm do cuộc xung đột vũ trang tại Trung Đông.
- MBS dự phóng lợi nhuận giai đoạn 2026-2027 đạt 13,227 và 14,896 tỷ đồng (+15.9%/+12.6% svck) với bệ phóng tăng trưởng nhờ mảng kinh doanh LNG mở rộng tích cực
- MBS đưa ra khuyến nghị TRUNG LẬP đối với cổ phiếu GAS với mức giá mục tiêu 83,800 VNĐ/cp.
VNDS
Điểm nhấn từ ĐHCĐ DPM - Báo cáo ĐHCĐ
- DPM xây dựng kế hoạch kinh doanh 2026 thận trọng hơn với kế hoạch LNST giảm 37,9% svck, phản ánh lo ngại trong bối cảnh thị trường thế giới nhiều biến động.
- DPM ghi nhận LNTT Q1/26 tăng mạnh 104% svck chủ yếu do sản lượng tiêu thụ và giá bán tăng.
- Đại hội đồng cổ đông thông qua phương án chia cổ tức tiền mặt năm 2025 là 15%.
Cập nhật kết quả kinh doanh Q1/26 và kế hoạch kinh doanh 2026
Sản lượng tiêu thụ urê trong Q1/26 ước tính đi ngang svck ở mức 239.000 tấn, sản lượng tiêu thụ NPK/phân bón tự doanh tăng 50%/32% svck đạt 59.000/140.000 tấn. Tổng doanh thu Q1/26 ước tăng 37% svck lên 5,7 nghìn tỷ đồng, trong khi LNTT tăng mạnh 104% svck lên 515 tỷ đồng. DPM đặt kế hoạch kinh doanh 2026 thận trọng với tổng doanh thu tăng nhẹ 3,1% svck trong khi kế hoạch LNST giảm 37,9% svck. Đại hội đồng cổ đông thông qua phương án chi trả cổ tức tiền mặt năm 2025 với tỷ lệ 15% và kế hoạch chi trả cổ tức năm 2026 là 12%.
Diễn biến giá urê và triển vọng giá bán urê
Giá bán urê trung bình trong Q1/26 ở mức 444 USD/tấn và tăng lên mức 700-900 USD/tấn trong Q2/26. Giá chào thầu gần nhất đã chạm tới ngưỡng 950 USD/tấn, trong kịch bản chiến tranh Trung Đông vẫn cằng thẳng kéo dài, giá bán urê trung bình trong 2026 ước đạt 600-650 USD/tấn.
Nguồn khí và dự báo giá khí
Giá khí đầu vào sản xuất urê trong Q1/26 đã tăng (trung bình ở mức 10,03 USD/mmbtu) theo biến động giá dầu thế giới, với tỷ trọng các nguồn khí lần lượt là: Rồng – Đồng Mồi (12%), các mỏ khác thuộc bể Cửu Long (65%), còn lại là các mỏ khác (trong đó LNG chiếm tỷ trọng nhỏ). Ban lãnh đạo tin rằng trong ngắn hạn, nguồn cung khí cho nhà máy đạm vẫn ổn định. Từ 2028, nguồn khí từ Sư Tử Trắng 2B dự kiến đi vào vận hành có thể hỗ trợ nguồn khí ổn định cho DPM trong 10-12 năm tới.
Các thông tin khác
Dự án DAP: Dự án DAP của DPM là dự án kết hợp sản xuất trên dây chuyền nhà máy NPK, sử dụng nguyên liệu đầu vào là H3PO4. Hiện quy mô sản lượng dự kiến còn tương đối thấp, doanh nghiệp dự kiến có thể tăng công suất sau khi nghiên cứu mở rộng bồn chứa H3PO4.
Công nợ VNPOLY: Tính đến hết 31/12/2025, DPM đã thanh toán cho tập đoàn PVN số tiền là 257,9 tỷ đồng và còn nợ lại 38 tỷ đồng liên quan đến nghĩa vụ bảo lãnh của DPM cho công ty liên kết của họ (VNPOLY). Ban lãnh đạo cho biết công ty sẽ phải tiếp tục trích lập đến hết Q3/28 cho khoản nợ xấu này
Điểm nhấn từ ĐHCĐ PC1 - Báo cáo ĐHCĐ
- PC1 đặt ra mục tiêu cho năm 2026 với doanh thu tăng trưởng 19% svck trong khi LNST lại giảm 22%.
- Động lực tăng trưởng năm 2026 đến từ mảng EPC, xây lắp điện và các dự án đầu tư, trong khi backlog lớn tiếp tục hỗ trợ triển vọng trung hạn.
- BLĐ tiếp tục nhấn mạnh các động lực tăng trưởng dài hạn từ Nomura 2, các dự án năng lượng mới và Nickel Giai đoạn 2.
Kế hoạch năm 2026: tăng trưởng doanh thu nhưng LN giảm
PC1 đặt kế hoạch doanh thu 2026 đạt 15.618 tỷ đồng và LNST hợp nhất đạt 1.056 tỷ đồng, tương ứng tăng 19,4% và giảm 22,1% svck. Công ty cũng dự kiến trả cổ tức 15% và tiếp tục triển khai ESOP tương đương 3% tổng số cổ phiếu đang lưu hành. Động lực tăng trưởng doanh thu năm 2026 chủ yếu đến từ mảng EPC/xây lắp điện và đóng góp tiếp tục từ các dự án đầu tư, tuy nhiên LN dự kiến suy giảm do BLĐ duy trì quan điểm điều hành thận trọng trong bối cảnh thủy văn kém thuận lợi hơn và chi phí đầu vào của mảng EPC/xây lắp còn biến động.
Phát điện: Ngắn hạn chịu áp lực từ thủy văn không thuân lợi
PC1 dự kiến doanh thu mảng phát điện năm 2026 khoảng 1,7 nghìn tỷ (giảm 7% svck), chủ yếu do giả định thủy văn không tích cực. Dù vậy, triển vọng trung hạn vẫn được hỗ trợ bởi hai dự án thủy điện mới Bảo Lạc A và Thượng Hà dự kiến vận hành từ cuối năm 2026. Về dài hạn, PC1 tiếp tục xem năng lượng là trụ cột xuyên suốt và đẩy mạnh các dự án NLTT theo hướng tận dụng hệ sinh thái EPC – thi công – truyền tải nội bộ.
Xây lắp điện: Backlog lớn tiếp tục là điểm tựa
BLĐ cho biết kế hoạch doanh thu của khối EPC/xây lắp điện trong năm 2026 vào khoảng 7 nghìn tỷ đồng, tiếp tục tập trung vào các dự án trọng điểm của EVN cũng như các dự án NLTT quy mô lớn như điện gió gần bờ và điện mặt trời nổi. PC1 tin rằng đây vẫn là trụ cột tăng trưởng quan trong trung hạn, nhờ backlog lớn và nhu cầu đầu tư điện tiếp tục tăng.
BĐS nhà ở và BĐS KCN: Tập trung vào phân khúc có thanh khoản tốt và hạ tầng công nghiệp thông minh
Ở mảng BĐS nhà ở, BLĐ cho biết PC1 tiếp tục ưu tiên các dự án nhà ở có thanh khoản tốt, pháp lý kiểm soát được và hạ tầng phù hợp, với trọng tâm hiện nay là Định Công, Bắc Từ Liêm và Gia Lâm, đồng thời định hướng thêm vào phân khúc nhà ở xã hội.
Ở mảng BĐS KCN, công ty định vị sản phẩm theo hướng hạ tầng công nghiệp sinh thái và thông minh, hướng tới nhóm khách thuê công nghệ cao. BLĐ cho biết thêm rằng Nomura 2 đã ký MOU với khách hàng Nhật cho khoảng 25ha, bên cạnh một số khách hàng tiềm năng đang đàm phán; theo PC1, dự án này có thể mang lại hơn 6.000 tỷ đồng doanh thu lũy kế đến năm 2030, qua đó trở thành một trong những động lực tăng trưởng trung hạn quan trọng của công ty.
Nickel: Giai đoạn 2 là động lực phát triển trong dài hạn
PC1 đặt kế hoạch doanh thu khoáng sản 2026 khoảng 1,2 nghìn tỷ đồng (tương đương năm 2025). BLĐ vẫn tích cực với triển vọng nickel dài hạn nhờ nhu cầu từ pin và hệ thống lưu trữ, nhưng cho rằng chất lượng quặng năm 2026 thấp hơn 2025, có thể ảnh hưởng tới biên lợi nhuận. Đối với dự án Nickel giai đoạn 2, công ty hiện vẫn đang làm việc với các bên và kỳ vọng triển khai trong 2028-29, qua đó trở thành động lực tăng trưởng trung-dài hạn của PC1.
Tiếp tục duy trì tăng trưởng vượt trội theo mô hình tập đoàn tài chính - Báo cáo ĐHCĐ
VPB đặt kế hoạch LNTT 2026 tăng mạnh +35% svck, dẫn dắt bởi tăng trưởng tín dụng gắn với mô hình hệ sinh thái tài chính.
Ngân hàng tiếp tục mở rộng hệ sinh thái theo định hướng tập đoàn tài chính, với các mảng mới như bảo hiểm, quản lý quỹ và tài sản số, tạo thêm động lực tăng trưởng ngoài tín dụng trong trung hạn.
Kế hoạch 2026 tham vọng, kết quả kinh doanh Q126 bám sát kế hoạch đặt ra
VPB đặt kế hoạch lợi nhuận trước thuế 2026 đạt 41.3 nghìn tỷ (+35% svck), đi kèm với tăng trưởng mạnh ở cả tín dụng và huy động. Cụ thể, tổng tài sản dự kiến đạt 1,630 nghìn tỷ (+29%), tín dụng hợp nhất đạt 1,292 nghìn tỷ (+34%) và huy động đạt 1,031 nghìn tỷ (+40%). Trong Q126, LNTT đạt 7.9 nghìn tỷ bám sát kế hoạch năm. Ngân hàng tiếp tục đặt mục tiêu kiểm soát nợ xấu dưới 2.5% (Q1: 2.18%), phản ánh định hướng cân bằng giữa tăng trưởng và kiểm soát rủi ro. Tăng trưởng tín dụng Q126 đạt ~10.2% YTD, trong khi huy động tăng ~11.8%, hỗ trợ thanh khoản cho giai đoạn mở rộng tiếp theo.
Định hướng chiến lược: Mở rộng quy mô gắn với xây dựng hệ sinh thái tài chính
VPBank tiếp tục nhấn mạnh mô hình “tập đoàn tài chính”, tận dụng hệ sinh thái để cải thiện hiệu quả vận hành và giữ chân khách hàng. Ngân hàng cũng đang mở rộng sang các mảng mới như bảo hiểm nhân thọ, quản lý quỹ, tài sản số và kinh doanh vàng, đồng thời duy trì đầu tư vào công nghệ và dữ liệu để tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững. Kết thúc năm 2025, các công ty con trong hệ sinh thái đều có kết quả kinh doanh ấn tượng với lợi nhuận trước thuế Fe Credit +30% svck, VPBankS +44% svck, OPES + 47% svck. Năm 2026 được VPBank xác định là năm bản lề trong kế hoạch phát triển 5 năm tiếp theo, đánh dấu giai đoạn tăng tốc nhằm hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược dài hạn. Ngân hàng đặt mục tiêu mở rộng mạnh mẽ quy mô hoạt động, đồng thời duy trì tốc độ tăng trưởng trên 30%/năm.
Tận dụng lợi thế room ngoại, phát hành riêng lẻ cho nhà đầu tư nước ngoài
VPB dự kiến phát hành riêng lẻ hơn 624 triệu cổ phiếu cho nhà đầu tư nước ngoài ~ VND 6,2 tn, nâng vốn điều lệ lên hơn 106.200 tỷ đồng. Thời gian thực hiện trong quý III đến quý IV. Việc tăng vốn sẽ giúp ngân hàng cải thiện hệ số CAR. Việc tăng vốn sẽ giúp ngân hàng cải thiện hệ số an toàn vốn (CAR), tạo dư địa mở rộng tín dụng, đồng thời nâng cao khả năng chống chịu rủi ro và đáp ứng các yêu cầu về vốn trong bối cảnh tăng trưởng cao.
Chính sách cổ tức hấp dẫn
VPBank duy trì chính sách cổ tức tương đối hấp dẫn khi dự kiến chi trả cổ tức tiền mặt 5% (tương đương ~4,000 tỷ đồng) và phát hành cổ phiếu thưởng ~26%, đưa tổng mức chi trả lên hơn 30%. Điều này phản ánh cách tiếp cận cân bằng giữa trả lại giá trị cho cổ đông và giữ lại lợi nhuận để tăng vốn, qua đó vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa duy trì sức hấp dẫn của cổ phiếu trong trung dài hạn
Lợi nhuận duy trì tăng trưởng bất chấp áp lực NIM – [Phù hợp dự phóng] - Báo cáo KQKD
- Tổng thu nhập hoạt động (TOI) Q1/26 tăng 17,8% svck, được hỗ trợ bởi thu nhập ngoài lãi (+25,6% svck) và thu nhập phí thuần (+14,6% svck).
- Chi phí hoạt động (OPEX) tăng 17,8% svck, giữ tỷ lệ chi phí/ thu nhập (CIR) ổn định ở 28,3%, trong khi chi phí dự phòng giảm 14,2% svck, hỗ trợ lợi nhuận.
- LNTT tăng 22,6% svck, hoàn thành ~23% dự phóng năm 2026, nhìn chung phù hợp kỳ vọng.
Thu ngoài lãi và tăng trưởng tín dụng là động lực thúc đẩy tổng thu nhập
TCB ghi nhận tăng trưởng thu nhập tích cực trong Q1/26, với tổng thu nhập hoạt động đạt 13,7 nghìn tỷ đồng (+17,8% svck), nhờ đóng góp từ cả thu nhập ngoài lãi (Non-II) và thu nhập lãi thuần (NII). Thu ngoài lãi tăng 25,6% svck, chủ yếu nhờ thu nhập phí tăng mạnh (+72,2% svck) và thu từ kinh doanh ngoại hối và vàng (+28,4% svck) – 2 cấu phần chiếm tỷ trọng lớn nhất trong Non-II, trong khi các cấu phần khác giảm. NII cũng tăng 14,6% svck, được hỗ trợ bởi tăng trưởng tín dụng tích cực (+3,8% sv đầu năm, +20,1% svck), cao hơn mức toàn ngành (3,18%). Tuy nhiên, NIM giảm xuống 3,4% (-16 điểm cơ bản svck, -52 điểm cơ bản sv quý trước) do chi phí vốn tăng nhanh hơn lợi suất tài sản trong bối cảnh thanh khoản hệ thống eo hẹp.
Chi phí hoạt động tăng đồng pha với doanh thu; chi phí dự phòng giảm hỗ trợ lợi nhuận
Chi phí hoạt động tăng 17,8% svck trong Q1/26, phù hợp với mức tăng của doanh thu (+17,8%), phản ánh việc tiếp tục đầu tư mở rộng hoạt động kinh doanh. Nhờ đó, tỷ lệ chi phí/ thu nhập (CIR) được duy trì ở mức 28,3%, đi ngang svck và thấp hơn đáng kể so với dự phóng năm 2026 của VNDS (30,8%). Trong khi đó, chi phí dự phòng giảm 14,2% svck, phù hợp với kỳ vọng (hoàn thành 24% dự phóng năm), qua đó hỗ trợ lợi nhuận trước thuế đạt 8,9 nghìn tỷ đồng (+22,6% svck). Kết quả này tương đương khoảng 23% dự phóng năm, nhìn chung phù hợp với kỳ vọng.
Chất lượng tài sản ổn định, tỷ lệ bao phủ nợ xấu tăng
Chất lượng tài sản của TCB duy trì ổn định trong Q1/26. Tỷ lệ nợ xấu giữ nguyên ở mức 1,1%, trong khi nợ nhóm 2 giảm xuống 0,7% (-10 điểm cơ bản svck) nhưng tăng 18 điểm cơ bản sv quý trước. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) tăng lên 129,4%, so với 111,6% cùng kỳ, chủ yếu nhờ ngân hàng duy trì trích lập dự phòng ở mức hợp lý trong khi nợ xấu đi ngang. Nhìn chung, chất lượng tài sản vẫn được kiểm soát tốt, tạo điều kiện để hỗ trợ tăng trưởng lợi nhuận trong thời gian tới.
MASVN
KQKD ổn định trong Q1/2026
Định giá và khuyến nghị
MASVN đã sử dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền tự do cho công ty (FCFF) để xác định giá trị hợp lý của cổ phiếu CTCP Đầu tư và Thương mại TNG (TNG), với tỷ suất lợi nhuận yêu cầu là 13% và giả định tăng trưởng dài hạn 0% sau năm 2036. Do đó, MASVN duy trì mục tiêu ở mức 26,500 đồng, nhưng nâng khuyến nghị lên Mua (từ Nắm giữ) khi giá cổ phiếu đã giảm 18.1% từ lần cập nhật gần nhất (VN-Index: +9.1%).
Bối cảnh vĩ mô và ngành
Xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam vững chắc với giá trị xuất khẩu T3 và Q1/2026 đạt 3.1 tỷ USD (+3.0% CK) và 8.8 tỷ USD (+1.9% CK). Sản xuất hàng may mặc trong nước ổn định khi IIP tăng 8.6% CK trong khi chỉ số sử dụng lao động đi ngang. Tuy nhiên, các tín hiệu suy yếu xuất hiện khi nhập khẩu một số nguyên liệu chính như bông (-16.5% CK) và vải (-1.7% CK) hạ nhiệt trong quý.
Mặt khác, giá dầu thô cao do chiến tranh Mỹ-Iran kéo dài thúc đẩy lạm phát ở các thị trường trọng điểm, làm suy yếu nhu cầu và niềm tin tiêu dùng. Chi phí nhiên liệu cao cũng đe dọa tỷ suất lợi nhuận của các công ty may mặc.
Cập nhật HĐKD
Doanh thu Q1/2026 của TNG tăng trưởng mạnh 29.2% CK, đạt 1,951.9 tỷ đồng. Biên lợi nhuận gộp thu hẹp xuống còn 12.1% (Q1 2025: 15.2%) và lợi nhuận gộp đạt 235.9 tỷ đồng (+2.6% CK). Trong khi thu nhập tài chính gần như không đổi, chi phí tài chính tăng 9.2% CK do nợ tăng và lãi suất cao hơn. Chi phí bán hàng cũng tăng 46.4% CK trong bối cảnh giá cước vận chuyển cao. Lợi nhuận hoạt động của TNG giảm nhẹ xuống còn 50.8 tỷ đồng (-5.4% CK). Trong quý, công ty ghi nhận lợi nhuận bất thường là 25.2 tỷ đồng (Q1 2025: 168 triệu đồng). LNST Q1 của TNG đạt 60.3 tỷ đồng (+39.3% CK).
Vào giữa tháng Tư, TNG đã công bố đơn từ chức của Chủ tịch Nguyễn Văn Thời.
Dự phóng năm 2026
Với mức thuế toàn cầu mới của Mỹ, MASVN kỳ vọng khách hàng sẽ khai thác khoảng thời gian 150 ngày và tích trữ hàng tồn kho để giảm rủi ro, tương tự như giai đoạn giữa năm 2025, điều này sẽ thúc đẩy hiệu suất của TNG trong nửa đầu năm 2026. Tuy nhiên, do chiến tranh Mỹ-Iran, MASVN cho rằng các chi phí chính sẽ tăng đáng kể và nhu cầu hàng may mặc tại các thị trường trọng điểm cũng sẽ bị ảnh hưởng. Nghiêm trọng hơn, một cú sốc năng lượng có khả năng làm ngừng sản xuất. Do đó, MASVN dự phóng quy mô lao động trung bình của TNG chỉ tăng nhẹ, tăng 5.9% CK lên 20,000, với năng suất lao động khoảng 465 triệu đồng/người (+0.8% CK). Doanh thu của TNG dự kiến ở mức 9,300 tỷ đồng (+6.9% CK) với tỷ suất lợi nhuận gộp đạt 15.4%. Các khoản chi phí chính khác, đặc biệt là chi phí tài chính và quản lý, bán hàng, sẽ tăng do lạm phát. MASVN dự báo lợi nhuận hoạt động và LNST năm 2026 lần lượt là 601.1 tỷ đồng (+26.5% CK) và 492.9 tỷ đồng (+25.4% CK).
BSC
Khẳng định vị thế, bứt phá cùng chu kỳ tài sản mới
UAN ĐIỂM ĐỊNH GIÁ
BSC duy trì khuyến nghị MUA đối với cổ phiếu PVD với giá mục tiêu 2026F là 39,450 VND/cp, tương ứng upside +25% so với giá đóng cửa ngày 23/04/2026. Giá mục tiêu dựa trên kết hợp 2 phương pháp EV/EBITDA và DCF với tỷ trọng 50%/50%.
DỰ BÁO KẾT QUẢ KINH DOANH
Dự báo DTT và LNST-CĐTS năm 2026 ước đạt 13,779 tỷ VND (+26% YoY) và 1,154 tỷ VND (+11% YoY, +28% YoY nếu loại bỏ thu nhập bất thường năm 2025) tương ứng EPS = 1,973 VND/cp, P/E fw 2026F = 16.9x và EV/EBITDA 2026F = 7.8x. Triển vọng này được củng cố bởi các giả định: (i) Giá thuê ngày cải thiện +6% YoY cùng đóng góp mới từ các giàn PVD VIII & IX và (ii) Mảng Kỹ thuật giếng khoan duy trì đà tăng trưởng +15% YoY từ nền cao của năm 2025.
CẬP NHẬT DOANH NGHIỆP
Ước tính KQKD Q1/2026: DTT đạt 3,500 tỷ VND (gấp đôi svck), LNTT đạt 400 tỷ VND (+100% YoY). KQKD 2025: DTT đạt 10,897 tỷ VND (+17% YoY), LNST-CĐTS đạt 1,039 tỷ VND (+49% YoY), vượt 24% dự phóng BSC. (Chi tiết phần Cập nhật doanh nghiệp.)
Cập nhật ĐHCĐ 2026: phương án tăng vốn 66.9% lên 9,282 tỷ VND nhằm nới dư địa vay và năng lực đấu thầu; đồng thời ngưng cổ tức tiền mặt để dồn lực cho đầu tư giàn khoan. Kế hoạch LNST 2026 thận trọng 800 tỷ VND (-22.8% svck).
Cập nhật quan điểm đầu tư
- Mảng Kỹ thuật giếng khoan: Nhu cầu dịch vụ từ dự án Lô B – Ô Môn (ước tính 40–50 giếng/năm) tạo nền tảng công việc ổn định. Doanh thu giai đoạn 2026–2027 dự phóng đạt 4,000 – 5,000 tỷ VND/năm (+153%) và LNG ~1,000 tỷ VND/năm (+188%) so với mức nền giai đoạn 2022–2024);
- Mảng dịch vụ khoan Ghi nhận đóng góp đầy đủ từ PVD VIII và PVD IX (vận hành từ Q2/2026). Doanh thu mảng Jack-up dự phóng tăng +41% trong năm 2026 nhờ tăng số giàn khoan và đơn giá thuê spot Q1/2026 xác lập đỉnh mới tại ~99,200 USD (+33% so với trung bình 2025).
RỦI RO
(1) Giá dầu biến động mạnh ảnh hưởng tới giá thuê giàn khi tái ký hợp đồng;
(2) Áp lực chi phí tài chính: Lãi suất vay neo cao cùng rủi ro lỗ tỷ giá chưa thực hiện khi đánh giá lại dư nợ vay ngoại tệ có thể bào mòn lợi nhuận trong ngắn hạn.
(3) Tiến độ vận hành: Rủi ro trễ điểm rơi doanh thu từ các giàn mới và các nút thắt triển khai tại siêu dự án Lô B ảnh hưởng trực tiếp đến backlog trong tương lai.
Nhận xét
Đăng nhận xét