Tổng hợp khuyến nghị thị trường hàng ngày – FPT, HDB, POW, REE, GEG, PC1, PGV, PVS, DCM, CTR, VEA, STB
Ngày 15/05/2026
SSI khuyến nghị MUA cp FPT (TP: 101.6), cập nhật HDB
HSC khuyến nghị MUA cp POW (TP: 16.9), REE (TP: 79.1), TĂNG TỶ TRỌNG cp GEG (TP: 18), PC1 (TP: 30), PGV (TP: 25.3)
VCSC khuyến nghị MUA cp PVS (TP: 60), POW (TP: 16.7), DCM (TP: 57.6), KHẢ QUAN cp CTR (TP: 96.8), PHÙ HỢP THỊ TRƯỜNG cp STB (TP: 73.5), cập nhật VEA
CÁC KHUYẾN NGHỊ PHÂN TÍCH CƠ BẢN
SSI
Nhu cầu chuyển đổi AI hỗ trợ doanh thu chuyển đổi số
Trong 4 tháng đầu năm 2026, FPT ghi nhận doanh thu và lợi nhuận sau thuế sau lợi ích cổ đông thiểu số (NPATMI) sơ bộ lần lượt đạt 17,2 nghìn tỷ đồng (+12% svck) và 3,4 nghìn tỷ đồng (+16% svck). Lợi nhuận trước thuế (LNTT) tăng 18% svck. Nếu chỉ tính riêng tháng 4, NPATMI tạm thời quay lại mức tăng trên 20% svck. Nhìn chung, kết quả 4 tháng này phù hợp với kỳ vọng của chúng tôi.
Cập nhật KQKD 4T2026 theo từng mảng
Mảng công nghệ: Động lực thúc đẩy tăng trưởng đến từ cả 2 lĩnh vực công nghệ thông tin (CNTT) nước ngoài và CNTT trong nước:
- CNTT nước ngoài ghi nhận tăng trưởng doanh thu và LNTT đều trên 10% svck:
- Thị trường Nhật Bản tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tốt (doanh thu tăng 23% svck), chiếm 47% doanh thu CNTT nước ngoài (số liệu tương ứng cho những thị trường khác không được công bố).
- Doanh thu chuyển đổi số tăng 25% svck (riêng tháng 4 tăng 46% svck), được hỗ trợ bởi nhu cầu chuyển đổi AI của khách hàng tiếp tục tăng. Cụ thể, doanh thu từ AI/Phân tích dữ liệu tăng mạnh 83% svck trong giai đoạn này.
- Giá trị hợp đồng ký mới/doanh thu ký mới đạt gần 20 nghìn tỷ đồng (+30% svck), cho thấy đà phục hồi tiếp diễn (chúng tôi ước tính tăng hơn 50% svck trong riêng tháng 4).
- CNTT trong nước thậm chí ghi nhận tốc độ tăng trưởng cao hơn so với CNTT nước ngoài (doanh thu tăng 20% svck, LNTT tăng gấp 4,4 lần svck) dù tỷ trọng đóng góp còn thấp (phù hợp với kỳ vọng), nhờ 1) tỷ trọng doanh thu cao hơn từ dịch vụ CNTT/phần mềm (so với phần cứng, loại hình thường có biên lợi nhuận thấp hơn), và 2) các hợp đồng từ cả khách hàng tư nhân và khu vực công.
Chúng tôi duy trì khuyến nghị MUA đối với FPT, với giá mục tiêu 12 tháng là 101.600 đồng/cp (tương đương tiềm năng tăng giá là 44%). FPT hiện đang giao dịch ở mức P/E trượt khoảng 12x (so với P/E trượt trung bình các công ty công nghệ toàn cầu là 17x).
Triển vọng cả năm duy trì khả quan
- HDB ghi nhận lợi nhuận trước thuế (LNTT) trong Q1/2026 tăng 14% svck, đạt 6,1 nghìn tỷ đồng. Mức lợi nhuận này thấp hơn dự báo của chúng tôi chủ yếu do NIM giảm mạnh hơn dự kiến. Tăng trưởng lợi nhuận cốt lõi chủ yếu đến từ thu nhập lãi thuần (+14,5% svck) ổn định và thu nhập từ phí cải thiện (+15,5% svck), trong khi lãi từ kinh doanh ngoại hối tăng mạnh (+71% svck). Chi phí vận hành vẫn được kiểm soát tốt, với tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) giảm xuống 26% so với 27,4% trong Q1/2025.
- Quan điểm của chúng tôi: Tính đến cuối Q1/2026, HDB đã hoàn thành khoảng 20% kế hoạch lợi nhuận cả năm và tương đương 22% dự báo năm 2026 của chúng tôi. Trong lịch sử, KQKD Q1 của HDB thường thấp hơn các quý sau do yếu tố mùa vụ, do đó chúng tôi giữ nguyên dự báo lợi nhuận năm 2026 với LNTT đạt 27,6 nghìn tỷ đồng (+29,6% svck).
- Về định giá, HDB hiện đang giao dịch P/B dự phóng ở mức 1,42x, thấp hơn mức trung bình lịch sử là 1,52x, trong khi ROE duy trì ở mức cao 25%.
- Tín dụng tăng mạnh. Tính đến Q1/2026, tổng dư nợ tín dụng đạt 635 nghìn tỷ đồng (+8% tính từ đầu năm, hay +47 nghìn tỷ đồng). Tăng trưởng chủ yếu đến từ bán buôn/bán lẻ và sửa chữa ô tô xe máy (+13,6 nghìn tỷ đồng), theo sau là cho vay bán lẻ và tiêu dùng (+8,9 nghìn tỷ đồng), chủ đầu tư bất động sản (+8,0 nghìn tỷ đồng), xây dựng (+5,9 nghìn tỷ đồng) và dịch vụ tài chính (+5,9 nghìn tỷ đồng). Nhờ hạn mức tín dụng dồi dào và không bị ràng buộc bởi hạn mức theo quý, ngân hàng đã mở rộng tín dụng trên nhiều lĩnh vực, bao gồm cả sản xuất & chế biến (+3 nghìn tỷ đồng) và lưu trú (+2,9 nghìn tỷ đồng) trong Q1/2026.
- Trong kỳ, HDB đã chuyển giao 6,8 nghìn tỷ đồng dư nợ sang Vikki. Nếu tính cả giao dịch này, tăng trưởng tín dụng đạt khoảng 9,2% tính từ đầu năm.
- Thanh khoản vững chắc. Tổng huy động tăng trưởng nhanh hơn so với tín dụng, tăng 11,9% tính từ đầu năm (+31% svck) lên 725,5 nghìn tỷ đồng, chủ yếu đến từ tiền gửi khách hàng (+10,8% từ đầu năm) và các khoản huy động khác (chứng chỉ tiền gửi & trái phiếu) (+18,9% từ đầu năm). Mặc dù mức huy động cao giúp HDB duy trì thanh khoản dồi dào và hỗ trợ tăng trưởng tín dụng trong các quý tới, nhưng dự kiến sẽ tạo áp lực đáng kể lên chi phí vốn của ngân hàng, ảnh hưởng kém tích cực đến NIM.
- Chất lượng tài sản suy giảm; bộ đệm dự phòng thu hẹp. Nợ xấu tăng mạnh 17,4% tính từ đầu năm lên 15,6 nghìn tỷ đồng, khiến tỷ lệ nợ xấu tăng lên 2,6% trong Q1/2026 (so với 2,44% trong Q4/2025). Ngược lại, dư nợ Nhóm 2 giảm 17,4% từ đầu năm xuống 15,5 nghìn tỷ đồng, tuy nhiên vẫn ở mức cao, chiếm 2,6% tổng dư nợ khách hàng. Chi phí tín dụng giảm xuống 0,88%, thấp hơn so với trung bình quý là 1,3%, qua đó làm giảm tỷ lệ bao phủ nợ xấu xuống còn 50% trong Q1/2026 (so với 54,8% trong Q4/2025).
- Biên lãi thuần (NIM) thu hẹp trong bối cảnh áp lực chi phí huy động vốn. Dù tăng trưởng tín dụng mạnh, lợi suất tài sản giảm 72 điểm cơ bản so với quý trước. Trong khi đó, việc đẩy mạnh huy động tiền gửi trong bối cảnh lãi suất tăng khiến chi phí vốn tăng cao (+56 điểm cơ bản so với quý trước) – mức tăng lớn thứ hai trong nhóm ngân hàng chúng tôi theo dõi. Ngoài ra, phải kể đến yếu tố mùa vụ, khi NIM Q1 luôn có xu hướng giảm trong 4 năm qua trước khi phục hồi vào Q2. Nhìn chung, NIM giảm mạnh 119 điểm cơ bản so với quý trước (tương đương -98 điểm cơ bản svck) xuống còn 3,83% trong Q1/2026.
HSC
Biến động trong tầm kiểm soát; duy trì k/n Mua vào
- HSC duy trì khuyến nghị Mua vào đối với POW và tăng 10,5% giá mục tiêu theo phương pháp DCF lên 16.900đ (tiềm năng tăng giá: 28,5%), dựa trên việc điều chỉnh tăng dự báo lợi nhuận cho năm 2026 và thay đổi các giả định định giá.
- HSC điều chỉnh tăng 7% dự báo lợi nhuận năm 2026, nhờ tăng các giả định cho nhà máy Nhơn Trạch 3 & 4 sau khi đạt được chứng chỉ vận hành thương mại. Tuy nhiên, HSC gần như giữ nguyên dự báo lợi nhuận cho năm 2027. Dự báo lợi nhuận thuần mới của HSC (bao gồm dự báo được đưa ra lần đầu cho năm 2028) cho thấy lợi nhuận thuần tăng trưởng với tốc độ CAGR giai đoạn 2024-2028 ở mức 22,4%.
- Sau khi giá cổ phiếu giảm 8% trong 1 tháng qua, POW đang giao dịch với P/E trượt dự phóng 1 năm là 18,1 lần, thấp hơn 0,6 độ lệch chuẩn so với bình quân từ tháng 1/2023 ở mức 31,7 lần.
Kỳ vọng lấy lại đà tăng trưởng nhờ các mảng kinh doanh cốt lõi
- HSC nâng khuyến nghị đối với REE lên Mua vào (từ Tăng tỷ trọng) và tăng 6% giá mục tiêu lên 79.100đ. HSC đánh giá cao chiến lược nâng cấp của công ty và định hướng tăng cường mở rộng mảng năng lượng tái tạo.
- HSC điều chỉnh tăng 8,5% và 12,1% dự báo lợi nhuận năm 2026/2027, sau khi điều chỉnh tăng dự báo lợi nhuận của mảng cơ điện (M&E) và cho thuê văn phòng, qua đó bù đắp cho mảng điện vốn đang đối mặt với tình trạng suy yếu về sản lượng. Dự báo mới của HSC, bao gồm dự báo được đưa ra lần đầu cho năm 2028, cho thấy lợi nhuận thuần tăng trưởng với tốc độ CAGR giai đoạn 2024-2028 ở mức 14%.
- Sau khi giá cổ phiếu tăng 2,9% trong 3 tháng qua, REE đang giao dịch với P/E trượt dự phóng 1 năm là 12,6 lần, cao hơn 1,2 độ lệch chuẩn so với bình quân từ tháng 1/2023 ở mức 11,6 lần.
Áp lực tài chính thu hẹp dư địa tăng trưởng
- HSC giảm 6% giá mục tiêu xuống 18.000đ (tiềm năng tăng giá: 18,8%) và hạ khuyến nghị đối với GEG xuống Tăng tỷ trọng (từ Mua vào) do chi phí tài chính tăng cao, làm suy giảm khả năng của công ty trong việc tối ưu hóa lợi ích từ đà tăng trưởng của mảng năng lượng tái tạo.
- HSC giảm nhẹ dự báo lợi nhuận bình quân cho năm 2026-2027, chủ yếu do chi phí lãi vay tăng cao. Mặc dù vậy, dự báo mới của HSC (bao gồm dự báo được đưa ra lần đầu cho năm 2028) cho thấy lợi nhuận thuần tăng trưởng với tốc độ CAGR giai đoạn 2024-2028 ở mức vững chắc 45,5%, nhờ mở rộng công suất và đà hồi phục dần dần của tỷ suất lợi nhuận.
- Sau khi giá cổ phiếu tăng 1% trong 3 tháng qua, GEG đang giao dịch với P/E trượt dự phóng 1 năm là 10,4 lần, thấp hơn 0,7 độ lệch chuẩn so với bình quân từ tháng 1/2023.
Hưởng lợi từ chủ trương nâng cấp hạ tầng
- HSC tăng 7% giá mục tiêu đối với PC1 lên 30.000đ, dựa trên sự gia tăng đáng kể của giá trị hợp đồng chưa triển khai ở mảng EPC, trong giữa bối cảnh Chính phủ đang quyết liệt đẩy nhanh tiến độ đầu tư hạ tầng truyền tải điện quốc gia. Tuy nhiên, HSC hạ khuyến nghị xuống Tăng tỷ trọng (từ Mua vào) sau khi giá cổ phiếu tăng trong thời gian gần đây.
- HSC tăng bình quân khoảng 13% dự báo lợi nhuận thuần cho năm 2026-2027, nhờ tỷ suất lợi nhuận ở các mảng kinh doanh chủ chốt cải thiện, đặc biệt là mảng EPC (nhờ mảng xây lắp có tỷ suất lợi nhuận cao hơn), cùng với mức đóng góp cao hơn của mảng sản xuất công nghiệp, khai khoáng và bất động sản.
- Sau khi giá cổ phiếu tăng 11,8% trong 3 tháng qua, PC1 đang giao dịch với P/E trượt dự phóng 1 năm là 11,8 lần, thấp hơn 0,5 độ lệch chuẩn so với bình quân từ tháng 1/2023 ở mức 19,8 lần.
Triển vọng hạn chế trước áp lực nguồn cung; duy trì k/n Tăng tỷ trọng
- HSC tăng 8,1% giá mục tiêu đối với PGV lên 25.300đ, do tác động tích cực từ việc giảm giả định WACC bù trừ cho tác động tiêu cực từ việc giảm dự báo lợi nhuận, trong bối cảnh nguồn cung nhiên liệu bị thắt chặt. HSC duy trì khuyến nghị Tăng tỷ trọng, với tiềm năng tăng giá là 6,1%.
- HSC giảm lần lượt 28% và 13% dự báo lợi nhuận thuần cho năm 2026-2027, sau khi điều chỉnh giảm các giả định về sản lượng điện khí và tăng giả định chi phí đầu vào (khí và than), dẫn đến tỷ suất lợi nhuận thu hẹp (giảm khoảng 1 điểm phần trăm trong năm 2026).
- Sau khi giá cổ phiếu tăng 2,4% trong 3 tháng qua, PGV đang giao dịch với P/B trượt dự phóng 1 năm là 1,2 lần, thấp hơn 1,8 độ lệch chuẩn so với bình quân từ tháng 1/2023 ở mức 1,6 lần. Cổ phiếu cũng có P/E trượt dự phóng 1 năm là 14,8 lần. Giá mục tiêu mới cho thấy P/E dự phóng năm 2026-2027 lần lượt ở mức 15,7 lần và 11,3 lần.
VCSC
Ngành năng lượng: Dự án khí Khánh Mỹ – Đầm Dơi trao hợp đồng EPCI, củng cố chu kỳ tăng trưởng của hoạt động khai thác và thăm dò thượng nguồn tại Việt Nam
- Ngày 12/5/2026, PVEP Khánh Mỹ và Liên doanh Vietsovpetro đã ký kết hợp đồng EPCI cho dự án phát triển mỏ khí Khánh Mỹ – Đầm Dơi (Lô 46/13). Trong khuôn khổ buổi lễ, Vietsovpetro và PTSC M&C cũng ký hợp đồng thiết kế, mua sắm và chế tạo hai khối thượng tầng – một trong những gói thầu trọng yếu của dự án.
- VCSC cho rằng đây là thêm một tín hiệu tích cực củng cố chu kỳ phục hồi đang diễn ra của ngành dầu khí thượng nguồn Việt Nam, tiếp nối hàng loạt yếu tố hỗ trợ gần đây như tiến triển của dự án Lô B, phát hiện dầu tại mỏ Hải Sư Vàng, và các chiến dịch khoan mới dự kiến triển khai từ cuối năm 2026 trở đi.
- Tổng mức đầu tư của dự án ước tính khoảng 10,3 nghìn tỷ đồng, với mục tiêu đón dòng khí đầu tiên vào quý 4/2027. Tổng vốn đầu tư cao hơn 54% so với ước tính sơ bộ trước đây của VCSC là 250 triệu USD, qua đó củng cố quan điểm tích cực đối với xu hướng gia tăng chi tiêu khai thác và thăm đò thượng nguồn tại Việt Nam trong những năm tới.
- Đối với PVS, giá trị hợp đồng chi tiết hiện chưa được công bố. VCSC hiện ước tính PVS có thể có hợp đồng với giá trị khoảng 175 triệu USD, và có thể được ghi nhận trong giai đoạn 2026–2027 nhằm phục vụ mục tiêu khai thác dòng khí đầu tiên vào quý IV/2027.
- Dự án này cũng hỗ trợ nguồn khí đầu vào cho POW và DCM.
- Hiện VCSC đang có khuyến nghị MUA đối với PVS với giá mục tiêu 60.000 đồng/cổ phiếu. VCSC cũng có khuyến nghị MUA đối với POW với giá mục tiêu 16.700 đồng/cổ phiếu và DCM với giá mục tiêu 57.600 đồng/cổ phiếu.
PVS
POW
DCM
CTR ghi nhận mức tăng trưởng LNTT sơ bộ 4 tháng đầu năm 2026 ở mức 21%
- KQKD sơ bộ 4 tháng đầu năm 2026 (4T 2026): Doanh thu đạt 5,2 nghìn tỷ đồng (+35% YoY), trong khi LNTT đạt 255,2 tỷ đồng (+21% YoY), lần lượt hoàn thành 34% và 26% dự báo cả năm của VCSC. Mặc dù doanh thu nhìn chung phù hợp với kỳ vọng, nhưng LNTT lại thấp hơn so với dự báo của VCSC, chủ yếu do mảng cho thuê hạ tầng ghi nhận mức tăng trưởng thấp hơn kỳ vọng. Mảng xây dựng và giải pháp tích hợp & dịch vụ kỹ thuật tiếp tục là động lực tăng trưởng chính; trong khi mảng cho thuê hạ tầng tăng chậm lại, phản ánh triển vọng tăng trưởng dự kiến giảm tốc trong giai đoạn tới.
- Mảng vận hành (doanh thu +9% YoY; tương đương 32% dự báo cả năm của VCSC) tiếp tục được hỗ trợ bởi hoạt động triển khai ổn định ở cả trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, nhu cầu duy trì từ hệ sinh thái vận hành, bảo trì mạng lưới của Tập đoàn Viettel cũng là động lực quan trọng giúp mảng này duy trì đà tăng trưởng.
- Mảng cho thuê hạ tầng (doanh thu +16% YoY; tương đương 30% dự báo cả năm của VCSC): Tính đến cuối tháng 4/2026, CTR duy trì số lượng trạm viễn thông ở mức 12.000 trạm, không đổi so với cuối năm 2025, qua đó phản ánh chiến lược mở rộng chọn lọc hơn của ban lãnh đạo sau giai đoạn tăng trưởng mạnh trong giai đoạn 2022–2025. Số lượng trạm dùng chung tăng lên 495 trạm vào cuối tháng 4 (so với 494 trạm vào cuối tháng 3), trong khi tỷ lệ dùng chung duy trì ổn định ở mức 1,04x, nhìn chung phù hợp với kỳ vọng của VCSC.
- Mảng xây dựng (doanh thu +75% YoY; tương đương 35% dự báo cả năm của VCSC): Mảng xây dựng của CTR ghi nhận doanh thu 1,9 nghìn tỷ đồng trong 4T 2026, nhờ được thúc đẩy bởi tiến độ triển khai tích cực tại nhiều dự án nhà ở xã hội, nhà ở cao cấp và khách sạn/khu nghỉ dưỡng mới khởi công. Nhờ đó, tỷ trọng đóng góp doanh thu của mảng này hiện đã tiệm cận mảng Vận hành (mảng kinh doanh lớn nhất của công ty).
- Mảng giải pháp tích hợp & dịch vụ kỹ thuật (doanh thu +57% YoY; tương đương 35% dự báo cả năm của VCSC): Tăng trưởng tiếp tục được dẫn dắt bởi các giải pháp điện mặt trời trong bối cảnh nhu cầu thị trường duy trì ở mức cao. Riêng trong tháng 4/2026, CTR đã ký mới 2.184 hợp đồng điện mặt trời (+375% YoY; +74% MoM), qua đó nâng tỷ lệ bao phủ điện mặt trời trên toàn quốc lên 42,6% số xã/phường (1.416/3.321 xã/phường). Trong khi đó, phân khúc Cơ điện & Công nghệ thông tin (ME&ICT) ghi nhận giá trị hợp đồng ký mới trong tháng 4 đạt 52,8 tỷ đồng (+66% YoY), nâng tổng giá trị hợp đồng ký mới trong 4T 2026 lên 242 tỷ đồng (+40% YoY). Mảng dịch vụ kỹ thuật cũng duy trì đà tăng trưởng tích cực khi công ty mởrộng triển khai dịch vụ tới 6.309 khách hàng doanh nghiệp và hộ gia đình trên toàn quốc (+20% MoM), đồng thời tiếp tục mở rộng hợp tác với các đối tác lớn.
- VCSC hiện đang duy trì khuyến nghị KHẢ QUAN đối với CTR, với mức giá mục tiêu là 96.800 đồng/cổ phiếu.
Doanh số xe du lịch hạ nhiệt trong tháng 4 sau mức nền cao của tháng 3, KQKD giữa các hãng xe tiếp tục phân hóa
- Dựa trên số liệu từ Hiệp hội Các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), Hyundai Thành Công và VinFast (VFS), tổng doanh số xe du lịch và xe VinFast đã tăng mạnh 37% YoY trong 4 tháng đầu năm 2026 (4T 2026). Trong khi đó, doanh số xe du lịch với động cơ đốt trong (ICE) tăng 16% YoY, tương đương 33% dự báo cả năm của VCSC và nhìn chung phù hợp với kỳ vọng. Doanh số xe du lịch trong tháng 4 đã hạ nhiệt so với mức nền cao của tháng 3, ghi nhận mức giảm mạnh MoM và giảm nhẹ YoY, khi các chương trình khuyến mãi và giảm giá xả hàng tồn kho từng hỗ trợ doanh số trong tháng 3 dần kết thúc.
- Doanh số 4T 2026 vẫn duy trì tích cực dù phần lớn động lực tăng trưởng đến từ KQKD quý 1, trong khi doanh số tháng 4 cho thấy sự phân hóa rõ rệt giữa các hãng xe. Trong tháng 4, Ford (-21% YoY), Hyundai (-25% YoY) và Honda (-10% YoY) ghi nhận doanh số yếu, trái ngược với VinFast (+158% YoY), Mitsubishi (+77% YoY), Toyota (+12% YoY) và Thaco (+3% YoY). Theo quan điểm của VCSC, sự phân hóa này phản ánh động lực tăng trưởng đến từ (1) xu hướng chuyển dịch sang xe điện/xe hybrid, thể hiện qua mức tăng 86% YoY của doanh số xe hybrid, đà tăng trưởng mạnh của xe điện VinFast và việc mẫu BEV Mustang Mach-E của Ford bắt đầu ghi nhận mức sản lượng đáng chú ý (dù vẫn chưa đủ để bù đắp cho đà suy giảm chung của Ford); và (2) hiệu ứng từ các mẫu xe mới cùng nhu cầu mạnh đối với phân khúc SUV/MPV. Ngoài VinFast, các hãng xe động cơ đốt trong truyền thống (bao gồm các thành viên VAMA và Hyundai) cũng đang đối mặt với áp lực cạnh tranh ngày càng lớn từ các thương hiệu Trung Quốc (như BYD, MG, Lynk & Co, Geely...), thểhiện qua mức tăng mạnh 73% của lượng nhập khẩu xe CBU từ Trung Quốc tính đến quý 1/2026. Đặc biệt, trong tháng 4, các hãng xe Trung Quốc tiếp tục thúc đẩy doanh số thông qua các chương trình giảm giá mạnh 10–20% trên nền mức giá bán vốn đã ở mức tương đối cạnh tranh nhằm mở rộng thị phần, qua đó góp phần khiến doanh số bán xe du lịch ICE ghi nhận sự sụt giảm.
- Doanh số xe máy Honda tăng nhẹ 2% YoY trong 4T 2026, tương đương 42% dự báo cả năm của VCSC và cao hơn kỳ vọng. Mức tăng trưởng chậm này cho thấy áp lực tiếp tục gia tăng lên danh mục sản phẩm thuộc phân khúc phổ thông của Honda trong bối cảnh xu hướng chuyển đổi sang xe điện diễn ra nhanh hơn trước khi các khu vực phát thải thấp (LEZ) được triển khai. Trong đó, tốc độ tăng trưởng nhanh của doanh số bán xe máy điện VinFast đang trở thành một thách thức cạnh tranh đáng kể đối với vị thế của Honda trên thị trường.
Tiến độ tái cấu trúc tích cực nhưng định giá không còn rẻ - Cập nhật
- VCSC tăng giá mục tiêu cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Tài Lộc (STB) thêm 32,7% lên 73.500 đồng/cổ phiếu nhưng điều chỉnh giảm khuyến nghị từ KHẢ QUAN xuống PHÙ HỢP THỊ TRƯỜNG do giá cổ phiếu STB đã tăng 27% tính từ đầu năm.
- Mặc dù VCSC dự báo tăng trưởng lợi nhuận năm 2026 sẽ ở mức khiêm tốn do ngân hàng tập trung xử lý nợ xấu, VCSC vẫn lạc quan về triển vọng cơ bản dài hạn của STB dựa trên (1) kỳ vọng Phó Chủ tịch mới, ông Nguyễn Đức Thụy, sẽ thúc đẩy cải thiện đáng kể hiệu quả hoạt động và (2) việc thoái vốn 32,5% cổ phần cuối cùng sẽ giúp củng cố đáng kể nền tảng vốn mặc dù thời điểm cụ thể vẫn chưa chắc chắn.
- STB hiện đang giao dịch ở mức P/B dự phóng các năm 2026/27 lần lượt là 2,1 lần/1,5 lần, cao hơn so với mức trung vị của các ngân hàng thương mại khác là 1,3 lần/1,1 lần.
- Rủi ro: Tỷ lệ nợ xấu cao hơn dự kiến; NIM thấp hơn dự kiến; tiến độ xử lý 32,5% cổ phần đang thế chấp tại VAMC tiếp tục bị trì hoãn.
TỔNG HỢP KHUYẾN NGHỊ SSI
Nhận xét
Đăng nhận xét